Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHẬT BÀ QUAN ÂM VÀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận chung về Phật giáo Việt Nam 1. Quá trình du nhập - phát triển của Phật giáo Việt Nam Theo đường biển, các vị sư Ấn Độ đã đến Việt Nam ngay từ đầu công nguyên [53;23]. Luy Lâu, trụ sở quận Giao Chỉ, đã sớm trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng.
Tại đây, với hoạt động truyền giáo của Khâu-đà-la (Ksudra, đến Luy Lâu trong khoảng các năm 168-189), đã xuất hiện truyền thuyết Phật giáo Việt Nam đầu tiên với Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu [66;45-53]. Từ trung tâm Phật giáo Luy Lâu, đã có những vị sư Ấn Độ như Ma- Ha-Kỳ-Vực (Mahajivaka) hoặc những người như Khương Tăng Hội (nguồn gốc Trung Á), sau khi xuất gia tu hành theo Phật giáo, đã đi sâu vào lãnh thổ Trung Hoa truyền đạo. Một trong những người được Khương Tăng Hội truyền đạo chính là Ngô Tôn Quyền. Có nhiều khả năng là từ Luy Lâu, Phật giáo đã truyền sang Bành Thành (kinh đô của nước Sở ở hạ lưu sông Trường Giang thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay), rồi từ Bành Thành đến Lạc Dương (kinh đô nhà Đông Hán xây dựng trên bờ sông Lạc, phía Nam sông Hoàng Hà, thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay), tạo nên ba trung tâm Phật giáo lớn của đế chế Hán đầu công nguyên [66;27-28].
Sau này, có lần khi trả lời vua Lương Vũ Đế về tình hình Phật giáo xứ Giao Châu, nhà sư Trung Quốc Đàm Thiên (người gốc Trung Á) đã tâu rằng: “Xứ Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc. Phật giáo truyền vào Trung Hoa chưa phổ cập đến Giang Đông mà xứ ấy đã xây ở Luy Lâu hơn 20 Bảo tháp, độ được hơn 500 vị Tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi. Thế là xứ ấy theo đạo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Phật trước ta” (chuyện này được Quốc sư Thông Biện thuật lại cho Thái hậu Linh Nhân (Ỷ Lan) nghe khi bà hỏi về nguồn gốc đạo Phật Việt Nam vào dịp các cao Tăng trong nước tập hợp tại chùa Khai Quốc (ngày nay là chùa Trấn Quốc, Thăng Long) vào ngày rằm tháng 2 năm 1096). Đến thời Tam Quốc, mẹ Ngô Tôn Quyền là Ngô Quốc Thái từng cho mời các nhà sư từ Luy Lâu sang Kiến Nghiệp (thủ phủ nước Ngô) thuyết giảng.
Tại Giao Châu, một người Trung Hoa tên là Mâu Bác (sinh khoảng 165-170) theo mẹ chạy tới đây lánh nạn, sau khi tiếp xúc với Phật giáo đã bỏ đạo Nho, đạo Lão mà tu theo đạo Phật. Cuốn sách Lý hoặc Luận (bàn luận về cách xử lý những điều còn lầm lẫn, mê hoặc) do ông viết tại Giao Châu đã trở thành cuốn sách đầu tiên giới thiệu về Phật giáo bằng tiếng Hán. Sách viết dạng Hỏi - Đáp gồm 37 câu, nội dung cho thấy rõ Phật giáo đã du nhập vào Giao Châu trực tiếp từ Ấn Độ nên có cách trang phục, giao tiếp khác hẳn, khiến cho người Trung Hoa thắc mắc (như Tăng sĩ Giao Châu mặc áo cà sa đỏ, khi giao tiếp không quỳ), và tác giả đã có cái nhìn khách quan trong việc đánh giá quan hệ của văn hóa Trung Hoa với các dân tộc xung quanh. “Điều 14 hỏi đáp, so sánh Phật giáo với Khổng giáo, biện bác về Di Địch và Chư Hạ”.
Chẳng hạn, câu hỏi số 14 nêu: “Tôi nghe dùng người Hạ (= Trung Hoa) để cải hóa giống người Di, Địch, chứ chưa từng nghe dùng người Di, Địch để cải hóa người Hạ bao giờ?”. Tác giả trả lời: Vì không đi đâu không biết nên tự cho mình là nhất thiên hạ, “cũng giống như một người chỉ mới thấy sông suối mà chưa thấy biển, mới thấy ánh sáng đuốc mà chưa thấy ánh mặt trời”. “Đạo Phật giống như mặt trời; Khổng, Lão chỉ là ngọn đuốc”. Cũng do Phật giáo đã được truyền bá trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ngay từ đầu công nguyên nên từ “Buddha” (bậc Giác ngộ) đã được phiên âm trực tiếp từ tiếng Phạn sang tiếng Việt thành Bụt.
Phật giáo Giao Châu lúc này mang màu sắc Tiểu thừa Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tông, và trong con mắt của người Việt Nam nông nghiệp, Bụt được hình dung như một vị thần dân dã toàn năng có mặt ở khắp nơi, luôn sẵn sàng xuất hiện để cứu giúp dân lành và trừng trị kẻ xấu. Sau này, đến thế kỷ IV-V lại có thêm luồng ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa Bắc tông từ Trung Hoa tràn vào. Chẳng mấy chốc, nó đã lấn át và thay thế luồng Nam Tông có từ trước đó. Từ “Buddha” từ tiếng Phạn nhập vào tiếng Hán được phiên âm thành Phật Đà, Phật Đồ; Rồi Phật Đà, Phật Đồ vào tiếng Việt dần dần rút gọn lại còn Phật, từ đây từ “Phật” dần dần thay thế hẳn cho từ “Bụt”.
Từ Bụt với nghĩa là “Người sáng lập ra Phật giáo” chỉ còn giới hạn trong các thành ngữ, tục ngữ mà nghĩa của nó đã trở thành cố định (Ví dụ: Gần chùa gọi Bụt bằng anh). Trong ngôn ngữ thường ngày “Bụt” được chuyển nghĩa thành “ông Tiên”; ông Bụt hiền từ là nhân vật phổ biến trong các truyện dân gian Việt Nam (Như truyện Tấm Cám). Từ thế kỷ thứ 6, theo Thiền Uyển Tập Anh, cuốn sử Phật giáo cổ xưa nhất hiện được biết, đã có sự du nhập các truyền phái Phật giáo từ Trung Hoa vào Việt Nam (Giao Châu) mang dấu ấn của Mật tông, Tịnh độ tông và Thiền tông Trung Quốc. Thiền tông là tông phái Phật giáo do nhà sư Ấn Độ Bồ-đề-đạt-ma (Boddhidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ VI.
“Thiền” (rút gọn của Thiền-na), là dạng phiên âm của Dhyana (tiếng Sanscrit có nghĩa là “tĩnh tâm”), chủ trương tập trung trí tuệ suy nghĩ (thiền) để tự mình tìm ra chân lý của đạo Phật. Tu theo Thiền tông đòi hỏi phải dành toàn bộ thời gian công sức và phải có khả năng trí tuệ, những người bình dân khả năng trí tuệ hạn chế và còn phải lo cơm áo gạo tiền nên khó lòng có thể tu theo Thiền tông được. Do vậy, Thiền tông chủ yếu chỉ phổ biến ở tầng lớp trí thức và giai cấp thượng lưu, cũng chính nhờ họ có điều kiện ghi chép lại mà nay, trong số ba truyền phái Phật giáo Đại thừa ở Việt Nam ta biết được về lịch sử Thiền tông ở Việt Nam rõ ràng hơn cả. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Truyền phái thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam là do nhà sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) lập ra.
Ông là người Ấn Độ, đi qua Trung Hoa, được Tổ thứ ba Thiền tông Trung Hoa là Tăng Xán khuyên nên “mau đi về phương Nam mà tiếp xúc với thiên hạ”. Ông đến Việt Nam vào năm 580, tu ở chùa Pháp Vân, tục gọi là chùa Dâu và truyền cho Tổ thứ hai là Pháp Hiền. Dòng Thiền này truyền được 19 thế hệ. Truyền phái thứ hai do một người ở Quảng Châu (Trung Quốc) có đạo hiệu là Vô Ngôn Thông lập ra.
Ông đến Việt Nam vào năm 820, tu ở chùa Kiến Sơ (làng Phù Đổng, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội). Người kế nghiệp ông là Cảm Thành. Dòng Thiền này truyền được 17 đời. Truyền phái thứ ba ở thời Lý, có nhà sư Thảo Đường (người Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành, được vua Lý Thánh Tông (ở ngôi 1054-1072) giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho mở đạo tràng tại chùa Khai Quốc (Thăng Long) vào năm 1069.
Đệ tử theo học rất đông, trong số đó có cả chính vua Lý Thánh Tông, truyền được 6 đời. Thời Trần có vua Trần Nhân Tông (sinh năm 1258, ở ngôi từ 1279- 1293, mất năm 1308), Người từng nghiên cứu Phật pháp dưới sự hướng dẫn của Thiền sư lỗi lạc Tuệ Trung Thượng Sĩ (Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Tung, là con Trần Liễu, bác của Trần Nhân Tông). Sau khi xuất gia vào năm 1299, đã lên tu ở trên núi Yên Tử (huyện Đông Triều, Quảng Ninh) và tại đây lập ra Thiền phái Trúc Lâm. Các sư Pháp Loa và Huyền Quang là Tổ thứ hai và thứ ba của phái này.
Với việc lập ra phái Trúc Lâm, thực chất là Trần Nhân Tông đã thống nhất được các truyền phái tồn tại trước đó và thống nhất toàn bộ các giáo nghĩa và truyền phái Phật giáo Việt Nam về một mối. Những giai đoạn sau này còn tiếp tục xuất hiện thêm một số thiền phái khác như phái Tào Động thời Trịnh - Nguyễn, phái Liên Tôn (thế kỷ XVII- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 XIX) có trụ sở ở chùa Bà Đá và chùa Liên Phái (Hà Nội), phái Liễu Quán phổ biến ở miền Trung vào thế kỷ XVII-XVIII, phái Lâm Tế xuất hiện ở miền Trung vào thời Nguyễn và rất phổ biến ở miền Nam sau này. Phật giáo Việt Nam từ thời đại nhà Lý, Trần rất đề cao phạm trù Tâm: Phật tại tâm, tâm là Niết Bàn, tâm tứ Phật Phật. Quốc sư núi Yên Tử nói với Trần Thái Tông: “Núi vốn không có Phật, Phật ở nơi tâm, tâm lặng lẽ sáng suốt ấy là chân Phật”.
Trần Nhân Tông viết: “Nơi mình có ngọc, tìm đâu nữa, Trước cảnh vô tâm, ấy đạo Thiền”. Khác với Thiền tông, Tịnh độ tông chủ trương phải dựa vào tha lực (sự giúp đỡ từ bên ngoài). Thực ra thì Thiền tông hay Tịnh độ tông cũng chỉ là những biện pháp tu thích hợp cho những đối tượng khác nhau và đều từ Đức Phật mà ra: Bản thân Phật Thích Ca đã nhờ tự lực suy nghĩ mà giác ngộ; nhưng để mọi người cùng giác ngộ thì cần phải hết sức giúp đỡ họ. Sự giúp đỡ từ bên ngoài này rất quan trọng, Phật Thích Ca có lần thuyết giảng rằng: “Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm, nhưng một hòn đá dù to đến mấy nếu đặt trên bè thì nó vẫn nổi”.
Thiền tông là phái dành cho những người có trình độ cao, có khả năng và điều kiện tự tu tự chứng. Còn Tịnh Độ tông là phái dành cho giới bình dân cần được giúp đỡ để tu. Sự giúp đỡ từ bên ngoài cho tín đồ Tịnh Độ tông là gợi cho họ hy vọng về một cõi Niết Bàn cụ thể gọi là cõi Tịnh Độ (yên tĩnh, trong sáng), được hình dung như một nơi cực lạc, nơi này do Đức Phật A Di Đà (A Di Đà là tên phiên âm từ tiếng Phạn Amitabha nghĩa là “Vô lượng quang”) cai quản. Người mà theo kinh Phật, đã xuất hiện từ vô số kiếp về trước.