chương 1 Các nghiên cứu về quyết định chọn của khách hàng đã được nghiên cứu khá nhiều và đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về sản phẩm dịch vụ của nhà thầu khảo sát địa chất. Đây là một trong những lý do chính để đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nhà thầu khảo sát địa chất của các doanh nghiệp tư vấn và thiết kế xây dựng tại thành phố Hô Chí Minh” được thực hiện. Ngoài ra, chương một còn trình bày về mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này trình bày các khái niệm liên quan, tổng quan cơ sở lý thuyết về hành vi của khách hàng, đặc điểm của sản phẩm dịch vụ khảo sát địa chất, phân tích các nghiên cứu trước trong và ngoài nước có liên quan và sau cùng đề xuất được mô hình nghiên cứu phù hợp. Các từ ngữ chuyên ngành Chủ đầu tư xây dựng (sau đây gọi là chủ đầu tư) là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng. (Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác.
(Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. (Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Giấy phép xây dựng là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tư để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời công trình. (Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) 6 Hoạt động đầu tư xây dựng là quá trình tiến hành các hoạt động xây dựng gồm xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng.
(Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. (Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát, thiết kế xây dựng, thẩm tra, kiểm định, thí nghiệm, quản lý dự án, giám sát thi công và công việc tư vấn khác có liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng. (Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng (sau đây gọi là nhà thầu) là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dựng. (Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Nhà ở riêng lẻ là công trình được xây dựng trong khuôn viên đất ở thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật.
(Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Sự cố công trình xây dựng là hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép, làm cho công trình xây dựng hoặc kết cấu phụ trợ thi công xây dựng công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần hoặc toàn bộ trong quá trình thi công xây dựng và khai thác sử dụng công trình. (Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Tổng thầu xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư để nhận thầu một, một số loại công việc hoặc toàn bộ công việc của dự án đầu tư xây dựng. (Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Thiết kế sơ bộ là thiết kế được lập trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, thể hiện những ý tưởng ban đầu về thiết kế xây dựng công trình, lựa 7 chọn sơ bộ về dây chuyền công nghệ, thiết bị làm cơ sở xác định chủ trương đầu tư xây dựng công trình. (Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Thiết kế cơ sở là thiết kế được lập trong Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng trên cơ sở phương án thiết kế được lựa chọn, thể hiện được các thông số kỹ thuật chủ yếu phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng, là căn cứ để triển khai các bước thiết kế tiếp theo.
(Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Thiết kế kỹ thuật là thiết kế cụ thể hóa thiết kế cơ sở sau khi dự án đầu tư xây dựng công trình được phê duyệt nhằm thể hiện đầy đủ các giải pháp, thông số kỹ thuật và vật liệu sử dụng phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng, là cơ sở để triển khai thiết kế bản vẽ thi công. (Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014) Khảo sát xây dựng gồm khảo sát địa hình, khảo sát địa chất công trình, khảo sát địa chất thủy văn, khảo sát hiện trạng công trình và công việc khảo sát khác phục vụ hoạt động đầu tư xây dựng do người quyết định đầu tư quyết định. (Điều 73 của Luật Xây dựng năm 2014) Khảo sát địa kỹ thuật - Geological Survey (tên gọi khác khảo sát địa chất công trình) là một phần của công tác khảo sát xây dựng nhằm điều tra, xác định và đánh giá các điều kiện địa kỹ thuật (địa chất công trình) để xây dựng nhà và công trình, đồng thời xem xét tương tác của môi trường địa chất với bản thân nhà và công trình trong quá trình xây dựng và khai thác chúng. Lý thuyết về hành vi mua của người tiêu dùng 2.
Thị trường và mô hình hành vi của người tiêu dùng Theo định nghĩa của Kotler và Armstrong (2012), thị trường người tiêu dùng bao gồm tất cả những cá nhân và hộ gia đình mua hàng hóa và dịch vụ để phụ vụ mục đích tiêu dùng cá nhân. Mô hình đơn giản nhất của hành vi mua hàng là mô hình kích thích – phản ứng. Theo mô hình này, các yếu tố kích thích của tiếp thị bao gồm: sản phẩm, giá 8 cả, phân phối và chiêu thị, công với những yếu tố khác: kinh tế, công nghệ, xã hội và văn hóa đã thâm nhập vào hộp đen của người mua. Từ đó, những dữ liệu đầu vào này cho ra những phản ứng như: quyết định lựa chọn sản phẩm, thương hiệu, thời gian mua và khối lượng mua.1: Mô hình hành vi của người mua Hộp đen Phản ứng Môi trường của người mua của người mua Yếu tố Khác: Các đặc điểm của Quan điểm và sở marketing người mua thích mua hàng kích thích: Kinh tế Quy trình quyết định Hành vi mua hàng: Sản phẩm Công nghệ của người mua mua gì, khi nào, ở đâu và bao nhiêu Giá cả Xã hội Quan điểm về mối Phân phối Văn hóa liên hệ giữa thương hiệu và công ty Chiêu thị Nguồn: Kotler và Armstrong, 2012, Nguyên lý tiếp thị, tr.164 Cách thức mà các kích thích được chuyển hóa thành phản ứng trong hộp đen của người tiêu dùng gồm hai phần: các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người mua và quy trình quyết định mua hàng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua Phát biểu của Kotler và Armstrong (2012, trang 165): “Có rất nhiều yếu tố thuộc nhiều cấp độ ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của chúng ta – từ các yếu tốt văn hóa và xã hội theo nghĩa rộng cho đến những động lực, niềm vui và quan điểm ẩn sâu bên trong mỗi người”. Hành vi mua của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng bởi bốn yếu tố quan trọng: văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý. Trong đó yếu tố văn hóa là yếu tố cơ bản nhất quyết định mong muốn và hành vi của người tiêu dùng. Trong yếu tố xã hội, các nhóm tham khảo, gia đình, vai trò và vị thế ảnh hưởng lớn đến việc chọn sản phẩm và thương hiệu.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua của người tiêu dùng Văn hóa Xã hội Cá nhân Văn hóa Các nhóm tham Tâm lý khảo Tuổi và giai đoạn trong vòng đời Động lực Nghề nghiệp Nhận thức Người mua Tiểu văn hóa Gia đình Tình hình kinh tế Học hỏi Phong cách sống Niềm tin và Tính cách và nhận quan điểm thức về bản thân Vai trò và vị thế Tầng lớp xã hội Nguồn: Kotler và Armstrong, 2012, Nguyên lý tiếp thị, tr.
Quy trình ra quyết định của người mua Theo Kotler và Armstrong (2012), quy trình ra quyết định của người mua gồm năm giai đoạn: nhận diện nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn, quyết định mua hàng và ứng xử sau khi mua hàng. Quyết định mua hàng cuối cùng là một phần của quy trình mua hàng. Quy trình mua hàng bắt đầu từ rất lâu trước khi hành vi mua hành được thực hiện và tiếp tục kéo dài sau đó rất lâu nữa.3: Mô hình quy trình ra quyết định của người mua Nhận diện Tìm kiếm Đánh giá các Quyết định Ứng xử sau nhu cầu thông tin lựa chọn mua hàng khi mua hàng Nguồn: Kotler và Armstrong, 2012, Nguyên lý tiếp thị, tr.186 10 Qua mô hình ta thấy khi mua hàng, người tiêu dùng trãi qua năm giai đoạn. Nhưng đối với những hàng hóa thông thường hơn, người tiêu dùng thường bỏ qua hoặc đảo ngược một số giai đoạn.
Lý thuyết về hành vi mua của tổ chức 2.