Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài NC. Tiếp theo là chương 2 sẽ trình bày một số lý thuyết liên quan đến ý định khởi nghiệp của SV, lược khảo những đề tài NC trước. Từ đó, đưa ra giả thuyết và mô hình NC.2 TỔNG QUAN VỀ PHONG TRÀO KHỞI NGHIỆP TẠI TỈNH AN GIANG Theo Tổng cục thống kê (2021), Đồng bằng sông Cửu Long trong năm 2020 đã có 10360 doanh nghiệp mới được thành lập, trong đó, riêng tỉnh An Giang có 858 doanh nghiệp, chiếm khoảng 8,28%. Điều này cho thấy quy mô về số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp của tỉnh An Giang so với các tỉnh khác ở Đồng bằng sông Cửu Long chưa lớn.
Các dự án khởi nghiệp của tỉnh An Giang thuộc các lĩnh vực như: nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ, sản xuất dịch vụ, đây là những ngành nghề thuộc thế mạnh của tỉnh An Giang. Trong đó, các dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (Phương Lan, 2022). Để định hướng và khuyến khích cho thanh niên tỉnh An Giang có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về khởi nghiệp, tỉnh An Giang có Trung tâm Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp trực thuộc Tỉnh đoàn An Giang (hoạt động chính thức năm 2017), qua đó tạo điều kiện thuận lợi về nguồn vốn, chia sẻ kinh nghiệm khởi nghiệp cho các phong trào khởi nghiệp của tỉnh nhà. Đến hết năm 2018, nguồn quỹ hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp đã hỗ trợ được 58 dự án khởi nghiệp, trong đó có 49 cá nhân và 9 doanh nghiệp với số tiền hơn 4 tỷ (Trương Thanh Thúy, 2022).
Trung tâm còn thực hiện các hoạt động giới thiệu sản phẩm tại các buổi hội trợ, triển lãm giúp các sản phẩm về khởi nghiệp được nhiều người biết đến rộng rãi. Bên cạnh đó, tỉnh An Giang cũng phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức các cuộc thi như: Cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp” tỉnh An Giang lần thứ 5 năm 2021. Đối với việc định hướng ý định khởi nghiệp cho SV, Trường Đại học An Giang tổ chức nhiều buổi hội thảo, giao lưu để chia sẻ kinh nghiệm cho SV như: Hội thảo khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2018 chủ đề “Chia sẻ nguồn lực - Kết nối thông tin”, buổi giao lưu giữa các doanh nhân và SV với chủ đề “Phòng tránh rủi ro khi khởi nghiệp”, hội thảo “Thúc đẩy hỗ trợ phát triển khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năm 2019”. Khi tham dự các cuộc thi hoặc các buổi hội thảo, thanh niên khởi nghiệp sẽ có cơ hội được quảng bá sản phẩm dịch vụ của họ, có thêm nhiều thông tin về việc tìm kiếm 6 nguồn vốn thực hiện ý tưởng, và được sự hỗ trợ từ các cơ quan, đơn vị, qua đó, giúp cho thanh niên giảm bớt các khó khăn từ việc khởi nghiệp.
Mặc dù vậy, phong trào khởi nghiệp của tỉnh An Giang vẫn còn một số hạn chế nhất định như: Một số cơ sở Đoàn trực thuộc chưa thực sự quan tâm đến hoạt động khởi nghiệp của Đoàn viên tại địa phương; Nhận thức về khởi nghiệp của một số thanh niên chưa sâu sắc, từ đó chưa dám mạnh dạn thực hiện ý tưởng khởi nghiệp, không khai thác hết thế mạnh của bản thân cũng như tiềm năng và lợi thế của địa phương (Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, 2018). Bên cạnh đó, tỉnh An Giang chưa có nhiều đơn vị tài trợ nguồn vốn để hỗ trợ các hoạt động khởi nghiệp, chưa có các biện pháp thu hồi nợ chậm trễ, nợ quá hạn (Đức Toàn, 2022). Mặc dù có nhiều buổi chia sẻ kiến thức kinh nghiệm về khởi nghiệp nhưng đa phần các buổi giao lưu này mang tính chất hình thức và chú trọng nhiều đến lý thuyết, chưa mang tính thực hành cao.1 Khởi nghiệp Khởi nghiệp là một thuật ngữ xuất hiện khá lâu trên thế giới. Các nhà NC khác nhau thường có các định nghĩa về khởi nghiệp khác nhau.
Khởi nghiệp là một hoạt động có mục đích để khởi đầu, duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích về tài chính hay các lợi ích khác trong kinh doanh mà ở đó sẽ tạo ra một sự tự do cho chính người thực hiện hoạt động này (Autio & cs. Khởi nghiệp được hiểu là hành động của doanh nhân khởi nghiệp - người tiến hành việc biến những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới thành những sản phẩm hàng hóa mang tính kinh tế (Drucker, 2011). MacMillan (1993) định nghĩa khởi nghiệp là việc cá nhân chấp nhận mọi rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới hoặc mở cửa hàng kinh doanh vì mục đích lợi nhuận và làm giàu. Khởi nghiệp cũng được coi là một quá trình các cá nhân tìm kiếm và tận dụng các cơ hội của thị trường thông qua việc thành lập các doanh nghiệp (Minniti & Naudé, 2010; O’Connor, 2013).
Khởi nghiệp không chỉ đơn thuần là thành lập các doanh nghiệp mới mà còn là việc làm những điều mới mẻ hoặc là làm những điều đã được thực hiện theo cách mới (Schumpeter, 1947); là sự sáng tạo, đổi mới và tăng trưởng, cách nghĩ và hành động phù hợp với tất cả các bộ phận của nền kinh tế, xã hội 7 và toàn bộ hệ sinh thái xung quanh (Volkmann và cs. Có thể nói tinh thần khởi nghiệp là tinh thần đổi mới, sáng tạo. Theo Nga và Shamuganathan (2010) khởi nghiệp là sự theo đuổi các cơ hội làm giàu về mặt kinh tế thông qua các sáng kiến hay các ý tưởng mới của cá nhân trong môi trường hoạt động không chắc chắn với các nguồn lực hữu hình giới hạn. Nhìn chung, có nhiều quan điểm về khởi nghiệp nhưng cốt lõi của khái niệm này là hành động bắt đầu một nghề nghiệp, mà hình thức thường thấy nhất đó là thành lập một doanh nghiệp để kinh doanh trong một lĩnh vực nào đó, thông qua những ý tưởng kinh doanh sáng tạo để tận dụng được cơ hội và đạt được sự hài lòng trong việc kinh doanh (Koe, Sa’ari, Majid, & Ismail, 2012).
Khái niệm khởi nghiệp sử dụng trong NC này tương đồng với khái niệm trên.2 Ý định khởi nghiệp Ý định là điểm khởi đầu cho việc kiểm soát hành động có chủ định. Ý định khởi nghiệp là sự gắn kết để thực hiện hành vi khởi nghiệp (Krueger và cs. Gartner và cs. (1994) cho rằng ý định khởi nghiệp là bước đầu tiên trong quá trình khám phá, sáng tạo, khai thác cơ hội để khởi nghiệp và thành lập doanh nghiệp mới.
Ý định khởi nghiệp kinh doanh là nhân tố quyết định đối với việc thực hiện hành vi kinh doanh có chủ ý của một người nào đó với mong muốn tạo ra giá trị, sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu xã hội ( Luthje & Franke, 2003). Bird (1988) quan niệm ý định khởi nghiệp của một cá nhân là trạng thái tâm trí, trong đó hướng đến việc hình thành một hoạt động kinh doanh mới hay tạo lập một doanh nghiệp mới. Kuckertz và Wagner (2010) khẳng định ý định khởi nghiệp bắt nguồn từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp. Gupta và Bhawe (2017) cho rằng ý định khởi nghiệp là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch, triển khai tạo lập doanh nghiệp và thường bắt đầu từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình.
Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự chuẩn bị của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp (Souitaris, Zerbinati, & Al-Laham, 2007) 8 Theo Schwarz, Wdowiak, Almer‐Jarz, và Breitenecker (2009), dự định khởi sự kinh doanh của SV xuất phát từ các ý tưởng của SV và được định hướng đúng đắn từ chương trình giáo dục và những người đào tạo. Ý định khởi nghiệp là sẵn sàng thực hiện các hoạt động của doanh nhân (Gurbuz & Aykol, 2008). Ý định khởi nghiệp là trạng thái của tâm trí trong việc sẵn sàng thực hiện tự kinh doanh, tự tạo việc làm hoặc thành lập doanh nghiệp mới (Dohse & Walter, 2012). Trong NC này, định nghĩa ý định khởi nghiệp được hiểu theo khái niệm trên.3 Thuyết hành động hợp lý của Ajzen và Fishbein (1975) Lý thuyết hành động hợp lý mô tả mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, chuẩn mực, ý định và hành vi do Fishbein (1967) xây dựng và được phát triển, kiểm định bởi Ajzen và Fishbein (1975).
Mô hình thuyết hành động hợp lí cho rằng ý định hành vi dẫn đến hành vi và ý định được quyết định bởi thái độ cá nhân đối hành vi, cùng sự ảnh hưởng của quy chuẩn chủ quan xung quanh việc thực hiện các hành vi đó (Fishbein & Ajzen, 1975). Trong đó, thái độ và quy chuẩn chủ quan có tầm quan trọng trong ý định hành vi. Nhận thức Thái độ hành vi Ý định Hành vi Nhận thức Chuẩn mực chuẩn mực chủ quan Hình 2.1: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý (Nguồn: Davis và cs.4 Mô hình lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991) Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991), được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý ( Ajzen & Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Lý thuyết này xác định ba tiền đề của ý định: thái độ đối với hành vi, các quy chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
Các thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện. Nhân tố thứ 9 hai là các quy chuẩn chủ quan đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó. Thuyết hành vi dự định được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình lý thuyết hành động hợp lý. Ajzen (1991) cũng cho rằng thái độ đối với hành vi và các quy chuẩn chủ quan phản ánh nhận thức mong muốn của việc thực hiện hành vi.
Còn nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh nhận thức rằng hành vi này có thể kiểm soát được một cách cá nhân hay không. Nói cách khác, nhận thức kiểm soát hành vi đề cập đến nhận thức của cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi. Mô hình của Ajzen (1991) được nhiều tác giả ứng dụng và mở rộng để xem xét sự tác động lên ý định khởi nghiệp kinh doanh. Trong nghiên này mô hình của Ajzen (1991) cũng được sử dụng để xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của SV khoa Kinh tế - QTKD Trường Đại học An Giang.