Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khởi nghiệp được xem là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề an sinh xã hội như giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao mức sống và giảm nghèo (Davidsson, 1995; Lee và cộng sự, 2006; Sobel & King, 2008). Tại Việt Nam, tinh thần khởi nghiệp được cổ vũ mạnh mẽ qua phong trào "Quốc gia khởi nghiệp" phát động từ năm 2016, tiếp nối bằng Quyết định số 1665/QĐ-TTg năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”. Đề án đặt trọng tâm vào việc trang bị kiến thức, kỹ năng và kết nối dự án của người học với nhà đầu tư qua các sân chơi như cuộc thi “Ý tưởng khởi nghiệp người học giáo dục nghề nghiệp” (Startup Kite) hay cuộc thi “Ý tưởng khởi nghiệp - CiC” của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại tỉnh An Giang, số lượng doanh nghiệp thành lập mới năm 2020 là 858 doanh nghiệp, chiếm 8,28% tổng số 10.360 doanh nghiệp mới của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Tổng cục Thống kê, 2021). Nguồn quỹ hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp của Tỉnh đoàn An Giang tính đến hết năm 2018 đã hỗ trợ hơn 4 tỷ đồng cho 58 dự án (gồm 49 cá nhân và 9 doanh nghiệp). Mặc dù các cuộc thi như “Ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp” tỉnh An Giang lần thứ 5 năm 2021 và các hội thảo chuyên đề tại Trường Đại học An Giang được tổ chức thường niên, phong trào khởi nghiệp tại địa phương vẫn đối diện với nhiều rào cản: nhận thức của thanh niên chưa sâu sắc, nguồn vốn tài trợ hạn chế, các hoạt động chia sẻ kinh nghiệm còn nặng tính lý thuyết.

Thực tế tại Trường Đại học An Giang cho thấy tỷ lệ sinh viên ra trường tự tạo việc làm còn rất thấp. Báo cáo thực trạng việc làm năm 2018 của Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng chỉ ra: tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 6 tháng tốt nghiệp đạt 73,5%, trong đó 49,2% làm việc tại doanh nghiệp tư nhân, 12,5% làm việc tại cơ quan nhà nước, 4,8% làm việc tại công ty nước ngoài, và chỉ có 1,8% sinh viên tự tạo việc làm cho mình (Châu Thị Ngọc Thùy & Huỳnh Lê Thiên Trúc, 2020).

Khóa luận xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Xác định các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh Trường Đại học An Giang.
  2. Đo lường mức độ tác động của các yếu tố này đến ý định khởi nghiệp.
  3. Kiểm định sự khác biệt giá trị trung bình ý định khởi nghiệp của sinh viên có đặc điểm nhân khẩu học khác nhau.
  4. Thống kê mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  5. Đề xuất một số kiến nghị mang hàm ý quản trị cho việc hoạch định các hoạt động giáo dục định hướng khởi nghiệp kích thích tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh Trường Đại học An Giang.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định:

  • Đối tượng nghiên cứu: Ý định khởi nghiệp và các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh Trường Đại học An Giang.
  • Đối tượng khảo sát: Sinh viên đang theo học các chương trình đào tạo thuộc Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh Trường Đại học An Giang.
  • Phạm vi không gian: Trường Đại học An Giang.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ ngày 09/01/2022 đến ngày 11/05/2022 (giai đoạn thu thập dữ liệu khảo sát từ ngày 10/03/2022 đến ngày 15/04/2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng hai lý thuyết nền tảng trong tâm lý học hành vi:

  • Thuyết hành động hợp lý (TRA - Theory of Reasoned Action) của Fishbein và Ajzen (1975): Khẳng định ý định hành vi dẫn đến hành vi thực tế; ý định được quyết định bởi hai tiền đề là thái độ đối với hành vi và quy chuẩn chủ quan.
  • Thuyết hành vi dự định (TPB - Theory of Planned Behavior) của Ajzen (1991): Mở rộng từ TRA bằng cách bổ sung nhân tố "Nhận thức kiểm soát hành vi" bên cạnh "Thái độ đối với hành vi" và "Quy chuẩn chủ quan" để giải thích các hành vi mà cá nhân không hoàn toàn kiểm soát được nguồn lực.

Kế thừa mô hình TPB và các công trình thực nghiệm trước đây (Luthje & Franke, 2004; Suan và cộng sự, 2011; Ambad & Damit, 2016; Võ Văn Hiền & Lê Hoàng Vân Trang, 2020; Nguyễn Văn Định và cộng sự, 2021), tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 7 biến độc lập tác động đến 1 biến phụ thuộc (Ý định khởi nghiệp - YDKN) thông qua 7 giả thuyết:

  • H1: Thái độ đối với hành vi có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • H2: Quy chuẩn chủ quan có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • H3: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • H4: Giáo dục khởi nghiệp có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • H5: Kinh nghiệm có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • H6: Đặc điểm tính cách có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • H7: Nguồn vốn có tác động cùng chiều với ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Quy trình nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn:

  1. Nghiên cứu định tính: Thực hiện thảo luận nhóm tập trung với $n = 10$ sinh viên nhằm rà soát từ ngữ, bổ sung và điều chỉnh các biến quan sát trong thang đo nháp để xây dựng bảng câu hỏi chính thức gồm 43 biến quan sát. Thang đo sử dụng dạng Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý).
  2. Nghiên cứu định lượng: Khảo sát cắt ngang bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (phi xác suất). Căn cứ theo nguyên tắc cỡ mẫu phân tích nhân tố khám phá EFA tối thiểu đạt tỷ lệ 5 mẫu/1 biến quan sát (Hair và cộng sự, 1998), với 43 biến quan sát cần cỡ mẫu tối thiểu là $43 \times 5 = 215$ mẫu. Tác giả phát ra và thu về 250 phiếu khảo sát hợp lệ qua hình thức trực tiếp và trực tuyến trong giai đoạn từ 10/03/2022 đến 15/04/2022.

Dữ liệu được làm sạch, mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 20 thông qua các kỹ thuật: thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach's Alpha (tiêu chuẩn Alpha $\ge 0,6$ và hệ số tương quan biến - tổng $\ge 0,3$), phân tích nhân tố khám phá EFA (tiêu chuẩn KMO từ 0,5 đến 1, Sig. Bartlett $< 0,05$, hệ số tải nhân tố $> 0,5$, tổng phương sai trích $> 50%$, Eigenvalue $> 1$), phân tích tương quan Pearson, phân tích hồi quy đa biến và kiểm định phi tham số (Mann-Whitney U cho biến giới tính; Kruskal-Wallis cho chuyên ngành, chi tiêu và năm học).

Tiêu chí nhân khẩu học Phân nhóm Số lượng (n = 250) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 91 36,4
Nữ 159 63,6
Chuyên ngành đào tạo Quản trị kinh doanh 112 44,8
Marketing 63 25,2
Kế toán 37 14,8
Kinh tế quốc tế 20 8,0
Tài chính ngân hàng 18 7,2
Mức chi tiêu hàng tháng Dưới 3 triệu đồng 196 78,4
Từ 3 đến dưới 5 triệu đồng 48 19,2
Từ 5 đến dưới 7 triệu đồng 3 1,2
Trên 7 triệu đồng 3 1,2
Tình trạng hôn nhân Độc thân 250 100,0
Đã kết hôn 0 0,0
Năm học Năm 1 33 13,2
Năm 2 97 38,8
Năm 3 65 26,0
Năm 4 55 22,0

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương 1 thiết lập khung tổng thể của nghiên cứu bằng cách phân tích bối cảnh khởi nghiệp quốc gia và địa phương. Tác giả nhấn mạnh khoảng cách lớn giữa định hướng chính sách (Quyết định 1665/QĐ-TTg, các chương trình hỗ trợ của Tỉnh đoàn An Giang) với tỷ lệ sinh viên tự tạo việc làm thực tế chỉ đạt 1,8% tại Trường Đại học An Giang năm 2018. Trên cơ sở đó, chương xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng khảo sát là sinh viên Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, phạm vi nghiên cứu từ tháng 01/2022 đến tháng 05/2022 và tóm lược phương pháp thực hiện.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương này tổng kết tình hình khởi nghiệp tại tỉnh An Giang với dữ liệu năm 2020 toàn tỉnh có 858 doanh nghiệp mới (8,28% toàn vùng ĐBSCL) và quỹ hỗ trợ thanh niên giải ngân hơn 4 tỷ đồng cho 58 dự án đến cuối năm 2018. Chương 2 phân tích các khái niệm cốt lõi: khởi nghiệp (Autio và cộng sự; Drucker, 2011; Schumpeter, 1947), ý định khởi nghiệp (Bird, 1988; Krueger và cộng sự, 2000; Souitaris và cộng sự, 2007). Tác giả hệ thống hóa 24 công trình nghiên cứu trước đây (13 nghiên cứu quốc tế và 11 nghiên cứu tại Việt Nam), lập bảng so sánh tổng hợp, chỉ ra tính đặc thù của sinh viên khối ngành kinh tế và xây dựng 7 giả thuyết nghiên cứu (H1 đến H7) ứng với mô hình nghiên cứu đề xuất.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu 2 giai đoạn. Nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm ($n = 10$) giúp điều chỉnh bảng hỏi. Nghiên cứu định lượng tiến hành với cỡ mẫu $n = 250$. Chương 3 công bố chi tiết hệ thống thang đo 43 biến quan sát: Thái độ đối với hành vi (4 biến: TD1-TD4), Quy chuẩn chủ quan (6 biến: QC1-QC6), Nhận thức kiểm soát hành vi (5 biến: NT1-NT5), Giáo dục khởi nghiệp (6 biến: GD1-GD6), Kinh nghiệm (5 biến: KN1-KN5), Đặc điểm tính cách (6 biến: DDTC1-DDTC6), Nguồn vốn (5 biến: NV1-NV5), và Ý định khởi nghiệp (6 biến: YDKN1-YDKN6). Tiến trình xử lý dữ liệu qua SPSS 20 được chuẩn hóa theo sơ đồ logic từ kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, tương quan, hồi quy đến kiểm định phi tham số.

Chương 4: Kết quả NC và thảo luận

Chương 4 kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha và phân tích dữ liệu thực tế. Quá trình kiểm định đã phát hiện và loại bỏ các biến quan sát không đạt chuẩn tương quan biến - tổng ($< 0,3$):

  • Thang đo Ý định khởi nghiệp: Hệ số Alpha ban đầu đạt 0,747. Loại biến YDKN6 (tương quan biến - tổng 0,208 $< 0,3$), Alpha tăng lên 0,816. Tiếp tục loại biến YDKN5 (tương quan biến - tổng 0,292 $< 0,3$), Alpha đạt 0,900 với 4 biến quan sát còn lại.
  • Thang đo Thái độ đối với hành vi: Alpha ban đầu đạt 0,733. Loại biến TD4 (tương quan biến - tổng 0,253 $< 0,3$), Alpha tăng lên 0,813 (còn lại 3 biến).
  • Thang đo Quy chuẩn chủ quan: Alpha ban đầu đạt 0,662. Lần lượt loại biến QC5 (0,172) và QC6 (0,168), Alpha tăng lên 0,826 (còn lại 4 biến).
  • Thang đo Nhận thức kiểm soát hành vi: Alpha đạt 0,759, giữ nguyên toàn bộ 5 biến quan sát (NT1-NT5).
  • Thang đo Giáo dục khởi nghiệp: Alpha ban đầu đạt 0,610. Loại biến GD1 (0,048) và GD6 (0,214), Alpha tăng lên 0,729 (còn lại 4 biến).
  • Thang đo Kinh nghiệm: Alpha đạt 0,822, các biến KN1-KN5 đều có tương quan biến - tổng đạt yêu cầu nên được giữ lại đầy đủ.
  • Thang đo Đặc điểm tính cách: Alpha ban đầu đạt 0,778. Loại biến DDTC6 (0,263 $< 0,3$), Alpha tăng lên 0,823 (còn lại 5 biến).
  • Thang đo Nguồn vốn: Alpha đạt 0,822, toàn bộ 5 biến quan sát (NV1-NV5) được giữ lại.
Thang đo thành phần Số biến ban đầu Biến bị loại bỏ Hệ số Cronbach's Alpha sau lọc Số biến giữ lại
Ý định khởi nghiệp (YDKN) 6 YDKN6, YDKN5 0,900 4
Thái độ đối với hành vi (TD) 4 TD4 0,813 3
Quy chuẩn chủ quan (QC) 6 QC5, QC6 0,826 4
Nhận thức kiểm soát hành vi (NT) 5 Không có 0,759 5
Giáo dục khởi nghiệp (GD) 6 GD1, GD6 0,729 4
Kinh nghiệm (KN) 5 Không có 0,822 5
Đặc điểm tính cách (DDTC) 6 DDTC6 0,823 5
Nguồn vốn (NV) 5 Không có 0,822 5

Sau khi tinh lọc qua EFA và phân tích hồi quy đa biến, mô hình hồi quy xác nhận cả 7 yếu tố đều có ý nghĩa thống kê và tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc, giải thích được 82% sự biến thiên của ý định khởi nghiệp ($R^2 = 0,82$). Thứ tự mức độ tác động từ mạnh nhất đến thấp nhất là: Kinh nghiệm > Đặc điểm tính cách > Nguồn vốn > Nhận thức kiểm soát hành vi > Quy chuẩn chủ quan > Thái độ đối với hành vi > Giáo dục khởi nghiệp. Phân tích kiểm định phi tham số Mann-Whitney và Kruskal-Wallis được áp dụng để kiểm tra sự khác biệt ý định khởi nghiệp theo giới tính, chuyên ngành, mức chi tiêu và năm học.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương cuối tóm lược các phát hiện nghiên cứu thực nghiệm và đề xuất 7 nhóm kiến nghị quản trị tương ứng với 7 yếu tố ảnh hưởng. Tác giả kiến nghị nhà trường cần tạo môi trường thực hành kinh doanh, rèn luyện kỹ năng qua hoạt động đoàn thể, kết nối các kênh vốn vay, đổi mới chương trình đào tạo khởi nghiệp theo hướng thực nghiệm. Chương này cũng phân tích các hạn chế phương pháp luận và vạch ra hướng đi cho các nghiên cứu tiếp sau.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể:

  • Mô hình hồi quy đa biến đạt độ tương thích cao với dữ liệu khảo sát, giải thích được 82% sự biến thiên của ý định khởi nghiệp ($R^2 = 0,82$).
  • Cả 7 giả thuyết nghiên cứu (H1 đến H7) đều được chấp nhận, khẳng định các yếu tố được khảo sát đều có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • Thứ tự cường độ tác động của các biến độc lập lên ý định khởi nghiệp được xác định cụ thể:
    1. Kinh nghiệm (yếu tố tác động mạnh nhất)
    2. Đặc điểm tính cách
    3. Nguồn vốn
    4. Nhận thức kiểm soát hành vi
    5. Quy chuẩn chủ quan
    6. Thái độ đối với hành vi
    7. Giáo dục khởi nghiệp (yếu tố tác động thấp nhất trong 7 yếu tố)

Các nhóm giải pháp và hàm ý quản trị được tác giả đề xuất:

  • Về yếu tố kinh nghiệm: Tăng cường cho sinh viên tham gia các hoạt động ngoại khóa tại doanh nghiệp, hỗ trợ kinh doanh gia đình, tham gia công tác quản lý (cán bộ lớp, cán bộ Đoàn - Hội, nhóm trưởng học phần) và các câu lạc bộ học thuật để tích lũy kỹ năng thực tế.
  • Về đặc điểm tính cách: Rèn luyện tính tự lập, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và khả năng chấp nhận rủi ro thông qua các mô hình tình huống trong giảng dạy.
  • Về nguồn vốn: Nhà trường và địa phương cần làm cầu nối giúp sinh viên tiếp cận các quỹ tín dụng, chính sách hỗ trợ vốn thanh niên khởi nghiệp; khuyến khích sinh viên lập kế hoạch tài chính cá nhân và tích lũy từ làm thêm.
  • Về nhận thức kiểm soát hành vi: Trang bị kiến thức nhận diện cơ hội kinh doanh, hướng dẫn các giai đoạn xây dựng và quản trị dự án khởi nghiệp từ ý tưởng đến thực tế.
  • Về quy chuẩn chủ quan: Tạo sự đồng thuận từ phía gia đình, bạn bè và xã hội; vinh danh các gương mặt khởi nghiệp thành công để tạo hiệu ứng lan tỏa.
  • Về thái độ đối với hành vi: Định hướng tư duy nghề nghiệp, nâng cao nhận thức về giá trị của việc tự làm chủ và sẵn sàng đón nhận cơ hội kinh doanh.
  • Về giáo dục khởi nghiệp: Cải tiến nội dung đào tạo tại trường theo hướng giảm lý thuyết hàn lâm, tăng thời lượng tập huấn kỹ năng lập dự án và tổ chức các cuộc thi sinh viên khởi nghiệp có tính ứng dụng cao.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận là công trình đầu tiên trong năm 2022 kiểm định mô hình kết hợp giữa TPB và các yếu tố ngoại lai (kinh nghiệm, tính cách, nguồn vốn, giáo dục) trên tập mẫu chuyên biệt là sinh viên khối ngành kinh tế (Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh) tại Trường Đại học An Giang, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về thứ bậc tác động vượt trội của yếu tố "Kinh nghiệm" so với các yếu tố lý thuyết truyền thống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ rõ các hạn chế phương pháp luận:

  • Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác xuất (chọn mẫu thuận tiện), do đó tính đại diện cho toàn bộ sinh viên Trường Đại học An Giang chưa tuyệt đối.
  • Quy mô và phạm vi đối tượng: Nghiên cứu chỉ tiến hành khảo sát $n = 250$ sinh viên đang theo học tại một đơn vị duy nhất là Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, chưa mở rộng sang các khoa chuyên ngành kỹ thuật, nông nghiệp, sư phạm hay công nghệ thông tin trong cùng trường.
  • Giới hạn không gian và thời gian: Phạm vi khảo sát tập trung tại Trường Đại học An Giang trong khoảng thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 05/2022, chưa đánh giá được sự biến động nhận thức và ý định theo chu kỳ thời gian dài hơn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát và áp dụng các kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất nhằm nâng cao tính đại diện.
  • Mở rộng đối tượng khảo sát sang sinh viên các khoa khác trong Trường Đại học An Giang và các trường đại học, cao đẳng khác trên địa bàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long để có góc nhìn so sánh đa chiều.
  • Bổ sung các biến kiểm soát hoặc các yếu tố mới từ môi trường kinh tế vĩ mô, các chính sách chuyển đổi số và công nghệ hỗ trợ khởi nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế, Marketing: Tham khảo trực tiếp khung bảng hỏi chuẩn hóa 43 biến quan sát, quy trình lọc biến chi tiết qua hệ số tương quan biến - tổng trong kiểm định Cronbach's Alpha và kỹ thuật xử lý dữ liệu SPSS.
  • Học viên, người làm đề tài nghiên cứu về hành vi khởi nghiệp: Cung cấp tổng mục tham khảo 24 công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, cùng cơ sở lý thuyết vững chắc về mô hình TRA (1975) và TPB (1991).
  • Ban Giám hiệu Trường Đại học An Giang và Ban Chủ nhiệm Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh: Sử dụng kết quả đo lường và thứ bậc tác động của 7 yếu tố để định hướng lại chương trình đào tạo, tăng cường các học phần thực hành, thực tập doanh nghiệp và thiết kế các chính sách hỗ trợ vốn, vườn ươm khởi nghiệp phù hợp với sinh viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và dựa trên căn cứ phương pháp luận nào?
Nghiên cứu khảo sát 250 sinh viên thuộc Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh Trường Đại học An Giang. Căn cứ chọn cỡ mẫu dựa theo tiêu chuẩn phân tích nhân tố khám phá EFA của Hair và cộng sự (1998), yêu cầu tỷ lệ tối thiểu 5 mẫu cho mỗi biến quan sát. Thang đo đề xuất có 43 biến quan sát, tương ứng cỡ mẫu tối thiểu là $43 \times 5 = 215$ mẫu. Mẫu thực tế $n = 250$ đáp ứng yêu cầu phân tích.

2. Những biến quan sát nào bị loại bỏ trong bước kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha?
Quá trình kiểm định Cronbach's Alpha đã loại bỏ 7 biến quan sát do có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3:

  • Thang đo Ý định khởi nghiệp loại 2 biến: YDKN6 (tương quan 0,208) và YDKN5 (tương quan 0,292).
  • Thang đo Thái độ đối với hành vi loại biến TD4 (tương quan 0,253).
  • Thang đo Quy chuẩn chủ quan loại 2 biến: QC5 (tương quan 0,172) và QC6 (tương quan 0,168).
  • Thang đo Giáo dục khởi nghiệp loại 2 biến: GD1 (tương quan 0,048) và GD6 (tương quan 0,214).
  • Thang đo Đặc điểm tính cách loại biến DDTC6 (tương quan 0,263).

3. Tỷ lệ sinh viên Trường Đại học An Giang tự tạo việc làm sau tốt nghiệp năm 2018 theo số liệu tác giả trích dẫn là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê năm 2018 của Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng Trường Đại học An Giang (được trích dẫn từ công trình của Châu Thị Ngọc Thùy & Huỳnh Lê Thiên Trúc, 2020), tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 6 tháng tốt nghiệp là 73,5%, nhưng tỷ lệ sinh viên tự tạo việc làm cho mình chỉ đạt 1,8%.

4. Yếu tố nào có tác động mạnh nhất và yếu nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trong nghiên cứu này?
Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy yếu tố "Kinh nghiệm" có tác động mạnh nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, trong khi yếu tố "Giáo dục khởi nghiệp" có mức độ tác động thấp nhất trong số 7 yếu tố được xác nhận trong mô hình.

5. Mô hình hồi quy của nghiên cứu giải thích được bao nhiêu phần trăm sự biến thiên của ý định khởi nghiệp?
Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến cho thấy hệ số xác định đạt 82% ($R^2 = 0,82$), nghĩa là 7 yếu tố độc lập trong mô hình giải thích được 82% sự biến thiên ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh Trường Đại học An Giang.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Xuân đã hoàn thành việc nhận diện và đo lường thực nghiệm 7 yếu tố tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh Trường Đại học An Giang, trong đó yếu tố kinh nghiệm và đặc điểm tính cách giữ vai trò chi phối hàng đầu. Mô hình hồi quy đa biến đạt độ thích hợp cao với độ giải thích 82% biến thiên của ý định khởi nghiệp trên tập dữ liệu khảo sát 250 sinh viên. Công trình cung cấp hệ thống thang đo được tinh lọc qua kiểm định Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá, làm cơ sở khoa học xác thực cho các hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy hoạt động giáo dục khởi nghiệp tại nhà trường và địa phương.