O V OT O N ÂN H N NH NƯỚ V ỆT NAM TRƯỜN HỌ N ÂN H N TP. HỒ HÍ M NH VÕ THỊ K ỀU OANH YẾU TỐ T N ẾN QUYẾT ỊNH SỬ N THẺ ỦA KH HH N T N ÂN H N THƯƠN M Ổ PHẦN N O THƯƠN V ỆT NAM – CHI NHÁNH TÂN BÌNH LUẬN VĂN TH C SĨ KINH TẾ TP.HỒ HÍ M NH - NĂM 2016 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.Một số khái niệm tổng quan về thẻ ngân hàng.Tổng quan về thẻ ngân hàng.Lịch sử hình thành và phát triển thẻ ngân hàng. Một buổi tối năm 1949, lúc trả tiền một bữa ăn chiêu đãi khách, luật sư người Mỹ Franck McNamara mới biết mình đã quên ví lẫn chi phiếu. Đây là một việc làm ông cảm thấy thật xấu hổ.
Do đó, vào năm 1951 ông Franck McNamara đã thành lập công ty đầu tiên phát hành thẻ tín dụng, 200 chiếc thẻ tín dụng đầu tiên ra đời phục vụ cho giới thượng lưu giàu có và tiếng tăm trong xã hội tại New York và chỉ được sử dụng hạn chế trong 27 nhà hàng sang trọng. Thẻ được mang tên là Diners Club. Công ty Amercian Express cũng theo gót Diners Club cho xuất hiện chiếc thẻ Amercian Express, vì sự hạn chế thẻ chỉ sử dụng thanh toán trong việc ăn uống, du lịch nên loại thẻ này vẫn hạn chế trong xã hội. Song song với sự ra đời của 2 chiếc thẻ này, các công ty bán lẻ, xăng dầu cũng cho ra đời một loại thẻ gọi là Charge Card, tuy nhiên thẻ cũng chỉ giới hạn sử dụng trong các công ty cấp thẻ này thôi.
Như thẻ Sears chỉ mua hàng ở Sears, Shell thì chỉ đổ xăng ở các cây xăng của Shell. Đến năm 1958, Carte Blanche và American bắt đầu thống lĩnh thị trường. Phần lớn các thẻ chỉ dành cho giới doanh nhân, nhưng các ngân hàng đã cảm nhận được giới bình dân mới là đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu cho tương lai. Ngân hàng Mỹ là nơi đầu tiên phát đạt với loại thẻ Bank Americard và nó làm dậy lên làn sóng học hỏi sự thành công này của các ngân hàng khác.
Đến năm 1966, Bank Americard mà ngày nay là Visa bắt đầu liên kết với các ngân hàng ở các tiểu bang khác. Mạng lưới của Bank Americard nhanh chóng bị cạnh tranh khốc liệt của đối thủ Wells Fargo liên kết với 77 ngân hàng, chủ nhân của Masters Charge mà ngày nay là Master Card. Cho đến ngày nay thì những cái tên như Visa Card hay Master Card đã nằm trong danh sách những thương hiệu nổi tiếng thế giới. Chính những chiếc thẻ thần kỳ này góp phần làm cho việc thanh toán giữa các quốc gia gần nhau hơn và nhanh 2 chóng hơn.
Ngày nay, thật đơn giản và thuận tiện khi thanh toán hàng hóa, dịch vụ trong các chuyến du lịch hay công tác sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ chỉ với chiếc thẻ trong tay. Chính vì sự tiện ích và ngày càng phổ biến rộng rãi của chiếc thẻ, các công ty và ngân hàng cùng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực đầy tiềm năng này để thu được nhiều lợi nhuận. Thẻ dần dần được xem như là một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán. Các loại thẻ Master, Visa, Diners Club, JCB, American Express (Amex) được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và các ngân hàng phát hành thẻ phân chia những thị trường rông lớn.
Khái niệm về thẻ ngân hàng. Thẻ ngân hàng là một sản phẩm tiện ích của các ngân hàng (NH), một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Có nhiều khái niệm về thẻ ngân hàng, mỗi khái niệm thể hiện nổi bật từng đặc điểm riêng biệt của thẻ ngân hàng. Như là, thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán hàng hóa, dịch vụ mà không sử dụng tiền mặt, hoặc được sử dụng để rút tiền măt tại các NH, các máy rút tiền tự động.
Hay theo Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/06/2016 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam thì “Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các Điều kiện và Điều Khoản được các bên thỏa thuận”. Tuy mỗi khái niệm một cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung đây là một phương tiện thanh toán mà chủ sở hữu thẻ ngân hàng có thể dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền tại các máy rút tiền tự động. Các thành phần tham gia hoạt động kinh doanh thẻ. Tổ chức thẻ quốc tế.
Là tổ chức cấp phép thành viên cho các NH phát hành và NH thanh toán thẻ. Tổ chức thẻ quốc tế có nhiệm vụ chính là cung cấp mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho qui trình thanh toán thẻ, đưa ra các điều lệ, qui chế cho hoạt động phát 3 hành thẻ, thanh toán thẻ và là trung gian giải quyết các tranh chấp khiếu nại giữa các đơn vị thành viên. Ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành là NH được ngân hàng nhà nước cho phép phát hành thẻ theo quy định, nếu là NH phát hành thẻ quốc tế thì phải là thành viên chính thức của các hiệp hội thẻ đối với Visa card và Master card hoặc là chi nhánh đối với các tổ chức phát hành như JCB và AMEX.
NH phát hành có trách nhiệm: - Yêu cầu chủ thẻ cung cấp đầy đủ các thông tin và tài liệu cần thiết nhằm làm rõ các điều kiện sử dụng thẻ của khách hàng khi đề nghị được cung ứng thẻ và trong quá trình sử dụng thẻ. Xem xét việc phát hành thẻ cho chủ thẻ, hướng dẫn chủ thẻ cách sử dụng và các quy định cần thiết khi sử dụng thẻ. - Khấu trừ trực tiếp vào tài khoản chủ thẻ đối với thẻ ghi nợ (Debit Card). - Thanh toán ngay số tiền trên hóa đơn do NH đại lý chuyển đến khi NH này thực hiện đúng thủ tục do NH phát hành quy định.
- Thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, phòng ngừa rủi ro cho các giao dịch thẻ theo các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động NH điện tử; bảo mật thông tin liên quan đến hoạt động thẻ; bảo đảm hệ thống cơ sở hạ tầng và phần mềm quản lý hoạt động phát hành, thanh toán thẻ hoạt động thông suốt và an toàn. Ngân hàng thanh toán. Ngân hàng thanh toán là NH trực tiếp ký hợp đồng với đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) và thanh toán các chứng từ giao dịch do ĐVCNT xuất trình. Đối với thẻ Visa Card và Master Card thì NH thanh toán phải là thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế.
Một NH có thể đóng cả hai vai trò là NH phát hành đồng thời là NH thanh toán. Chủ thẻ là cá nhân hoặc tổ chức được tổ chức phát hành thẻ cung cấp thẻ để sử dụng, bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Chủ thẻ phải cung cấp đầy đủ và chính 4 xác các thông tin cần thiết theo yêu cầu của ngân hàng phát hành khi yêu cầu phát hành thẻ và trong quá trình sử dụng thẻ. Chủ thẻ được sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ mà không bị phân biệt giá so với trường hợp thanh toán bằng tiền mặt, không phải trả thêm tiền hoặc phụ phí cho ĐVCNT.
Đồng thời chủ thẻ phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho NH phát hành thẻ các khoản phí, tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo đúng thoả thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ. Đơn vị chấp nhận thẻ. Đơn vị chấp nhận thẻ là tổ chức, cá nhân chấp nhận thanh toán hàng hoá và dịch vụ, cung cấp dịch vụ nạp, rút tiền mặt bằng thẻ. Các đơn vị này phải trang bị máy móc thiết bị kỹ thuật để tiếp nhận thẻ thanh toán mua hàng hóa, dịch vụ thay cho tiền mặt.
Khái niệm thẻ và dịch vụ thẻ thanh toán tại ngân hàng thương mại. Khái niệm thẻ thanh toán. Hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác về thẻ nhưng ta có thể hiểu một cách đơn giản sau: Thẻ là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng đã ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Hoá đơn thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ.
Cơ sở chấp nhận thẻ và đơn vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua ngân hàng thanh toán thẻ và ngân hàng phát hành thẻ. Phân loại thẻ thanh toán. Theo Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/06/2016 của NHNN Việt Nam thì hiện nay chủ yếu có các loại thẻ sau: Thẻ ghi nợ là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi (nếu có) trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức phát hành thẻ. 5 Thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ.
Thẻ trả trước là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Thẻ đồng thương hiệu là thẻ đồng thời có thương hiệu của tổ chức phát hành thẻ và thương hiệu của tổ chức liên kết, hợp tác phát hành thẻ. Thẻ vật lý là thẻ có hình thức hiện hữu vật chất, thông thường được làm bằng chất liệu nhựa, có gắn dải từ hoặc chip điện tử để lưu giữ dữ liệu thẻ. Thẻ phi vật lý là thẻ không hiện hữu bằng hình thức vật chất nhưng vẫn chứa các thông tin trên thẻ, được tổ chức phát hành thẻ phát hành cho chủ thẻ để giao dịch qua internet, điện thoại di động hoặc các thiết bị điện tử chấp nhận thẻ khác.
Thẻ phi vật lý có thể được tổ chức phát hành thẻ in ra thẻ vật lý khi chủ thẻ có yêu cầu. Lợi ích của việc sử dụng thẻ thanh toán. Đối với chủ thẻ. - Tiện lợi: chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, để rút tiền mặt hoặc tiếp nhận một số dịch vụ NH tại các cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ, máy ATM, các ngân hàng thanh toán thẻ trong và ngoài nước.
Khi dùng thẻ thanh toán, chủ thẻ có thể chi tiêu trước, trả tiền sau (đối với thẻ tín dụng), hoặc có thể thực hiện dịch vụ mua bán hàng hoá tại nhà.