Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về DNNVV, các định chế tài chính quốc tế, các quốc gia lại có định nghĩa khác nhau về loại hình doanh nghiệp này, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau này là do tiêu chí dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp, nhưng nhìn chung các tiêu chí cũng dựa vào một số tiêu chuẩn định lượng về quy mô doanh nghiệp như doanh thu, tổng tài sản và số lượng lao động. Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB), DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV có thể được chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là: doanh nghiệp siêu nhỏ với số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người và doanh nghiệp vừa có từ 50 đến dưới 300 lao động.
Theo một số quốc gia trên thế giới: Bảng 2.1: Phân loại DNNVV của một số quốc gia và khu vực trên thế giới Quốc gia Số lượng lao động (người) Các tiêu chí khác USA Hammer et al. 1-3) EU Doanh thu < 50 triệu Euro hoặc tổng < 250 OECD (2005) tài sản < 43 triệu Euro Trung Quốc Từ ít hơn 200 đến 3000 lao Tổng tài sản < 400 triệu RMB hoặc Wang (2008, p. 2) động tùy từng ngành doanh thu < 300 triệu RMB Malaysia Ngành sản xuất và các Doanh số bán hàng <= 5 triệu RM 7 SME Master Plan ngành dịch vụ liên quan, 2012 – 2020, p.127 nông nghiệp <=150 Dịch vụ, Nông nghiệp ưu tiên, công nghệ thông tin và truyền thông <=50 Thái Lan Sản xuất và dịch vụ: <=200 Tổng tài sản cố định: < 200 triệu THB OECD, 2012, p. Bán sỉ: <= 50 Tổng tài sản cố định: < 100 triệu THB 147 Bán lẻ: <= 30 Tổng tài sản cố định: < 60 triệu THB Singapore Spring Singapore, Doanh số bán hàng hàng năm <= 100 Performance <= 200 triệu SGD Indicators Taiwan Sản xuất, xây dựng và The Definition of công nghiệp khai thác < Vốn góp <= 2,42 triệu USD SMEs”, Small and 200 lao động thường xuyên Medium sized Enterprie Các ngành khác (Nông, Administration, lâm nghiệp và thủy sản) < Vốn góp <= 3,03 triệu USD Ministry of 100 lao động thường xuyên Economic Affairs Philippines SMEs < 200 Tổng tài sản < 100 triệu Peso Development Plan 2004 – 2010”, p.1 cho thấy đa phần các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở để phân loại quy mô doanh nghiệp vì tiêu chí này thường ổn định 8 lâu dài về mặt thời gian, thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực doanh nghiệp đang tham gia.
Còn các tiêu chí doanh thu, vốn…là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ nhưng thiếu ổn định do thường xuyên chịu tác động bởi các biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, lạm phát… Tại Việt Nam, hiện tại DNNVV được xác định theo nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 dựa theo các tiêu chí: Quy mô vốn, quy mô lao động theo từng khu vực Bảng 2.2: Phân loại Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Tổng doanh Tổng doanh Tổng doanh thu Số lao Số lao Số lao Khu vực thu hoặc tổng thu hoặc tổng hoặc tổng động động động nguồn vốn nguồn vốn nguồn vốn Nông nghiệp, lâm DT < 3 tỷ đồng DT < 50 tỷ DT < 200 tỷ nghiệp, < 10 < 100 < 200 hoặc NV < 3 tỷ đồng hoặc NV đồng hoặc NV thủy sản người người người đồng < 20 tỷ đồng < 100 tỷ đồng và công nghiệp, xây dựng Thương DT < 10 tỷ DT < 100 tỷ DT < 300 tỷ < 10 < 50 < 100 mại, dịch đồng hoặc NV đồng hoặc NV đồng hoặc NV người người người vụ < 3 tỷ đồng < 50 tỷ đồng < 100 tỷ đồng (Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018) Cách phân loại phân chia DNNVV theo 3 nhóm ngành chính là thương 9 mại và dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, nông – lâm – nghiệp và thủy sản; quy mô doanh nghiệp cũng được phân loại chi tiết hơn là vừa, nhỏ, và siêu nhỏ nhằm mục đích giúp Chính phủ thực hiện các biện pháp hỗ trợ phù hợp, sát sao hơn đối với các doanh nghiệp. Đối tượng doanh nghiệp được đề cập ở đây bao gồm các loại hình doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần, công ty hợp doanh và doanh nghiệp tư nhân.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Từ cách phân loại của các định chế tài chính quốc tế và các quốc gia khác nhau trên thế giới, nhìn chung DNNVV có những đặc trưng riêng để phân biệt với các doanh nghiệp quy mô lớn như sau: Đặc điểm về vốn: DNNVV thường hoạt động kinh doanh với số vốn không lớn do có nhu cầu về nhà xưởng, thiết bị, máy móc, vốn lưu động thấp. Khi cần đầu tư mở rộng sản xuất hoặc bổ sung vốn lưu động thường phải sử dụng vốn tự có hoặc các nguồn tín dụng phi chính thức do gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Đặc điểm về quản lý: DNNVV thường có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ.
Quyền quyết định, điều hành thường tập trung chủ yếu ở chủ doanh nghiệp. Chính về thế mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong các DNNVV còn rất thấp so với yêu cầu. Đặc điểm về lao động: DNNVV sử dụng lao động có trình độ không cao, không đồng đều và số lượng lao động hạn chế. Đặc điểm về phạm vi hoạt động: DNNVV có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, không đủ nguồn lực để có thông tin đầu vào và tiêu thụ sản phẩm, thường chỉ phục vụ những phân khúc khách hàng cụ thể trong địa phương, thiếu năng lực 10 tiếp cận thị trường nên khó tiêu thụ sản phẩm trên cả nước và hội nhập thị trường các nước.3 Vai trò của các DNNVV Đóng góp phần lớn vào tổng sản phẩm quốc nội và tăng trưởng kinh tế Giống như bất kỳ nước nào khác trong khu vực Đông Nam Á, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Số liệu do Tổng cục Thống kê (GSO, 2017) cung cấp cho thấy các DNNVV chiếm 98% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam. Các DNNVV đóng góp đáng kể vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP), đóng góp 48% vào GDP quốc gia (MPI, 2017). Ngoài ra, các DNNVV cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc đóng góp doanh thu của chính phủ. So với khu vực kinh doanh nói chung, các DNNVV có tỷ lệ tăng trưởng cao về thuế và các khoản phải trả khác.
Với tầm quan trọng của DNNVV đối với nền kinh tế và phát triển xã hội, chắc chắn rằng DNNVV cần được khuyến khích và phát huy. Tạo được nhiều việc làm, góp phần đào tạo lực lượng lao động Trong điều kiện ở các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, vấn đề lao động và việc làm là vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. Với khoảng 77% tổng số lao động Việt Nam làm việc trong các DNNVV và là nguồn tạo việc làm chính với nửa triệu việc làm mới mỗi năm (MPI, 2017), các doanh nghiệp góp phần xóa đói giảm nghèo, góp phần vào công việc đào tạo nâng cao tay nghề cho người lao động và phát triển nguồn nhân lực. Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động làm cho nền kinh tế năng động hơn 11 Trong quá trình phát triển của mình DNNVV đã thu hút phần lớn lao động tại nông thôn, lao động bắt đầu tham gia vào thị trường việc làm, lực lượng lao động này chủ yếu tập trung vào các ngành phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quốc gia. Cạnh đó, với quy mô nhỏ và chủ yếu thuộc thành phần kinh tế tư nhân tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh của mình nên DNNVV có tính linh hoạt cao: có thể tạo lập dễ dàng, phát triển rộng rãi ở mọi vùng lãnh thổ; dễcải tiến sản phẩm, mẫu mã, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ …để thích nghi với sự thay đổi của thị trường. Chính sự linh hoạt này của DNNVV đã giúp nền kinh tế năng động hơn, phù hợp với yêu cầu hội nhập của nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Cho vay là là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo luật các tổ chức tín dụng (2010): Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó các ngân hàng, các tổ chức tín dụng vừa là bên đi vay, vừa là bên cho vay. Bên cho vay chuyển giao 12 tạm thời quyền sử dụng tài sản cho bên đi vay trong thời gian thỏa thuận, bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả lại vô điều kiện đầy đủ vốn và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV Quan hệ tín dụng giữa DNNVV với các ngân hàng thương mại có những đặc điểm sau: Thứ nhất, về đảm bảo tín dụng thì hầu hết các DNNVV phải có tài sản đảm bảo khi vay vốn các ngân hàng thương mại. Thứ hai, về quy mô tín dụng là rất thấp nếu tính bình quân trên một DNNVV.
Thứ ba, về thời hạn tín dụng thì chủ yếu là cho vay ngắn hạn.