Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh giáo dục và thị trường lao động tại Việt Nam, việc lựa chọn nghề nghiệp cho học sinh phổ thông còn chịu sự chi phối từ nhiều yếu tố phức tạp, trong khi công tác tư vấn hướng nghiệp tại trường học chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tế. Theo số liệu thống kê được trích dẫn trong văn bản, hàng năm cả nước có gần 450 nghìn cử nhân đại học, cao đẳng tốt nghiệp ra trường, nhưng có đến 63% không có việc làm; 37% số có việc làm thì phần lớn phải đào tạo lại hoặc làm việc không đúng chuyên ngành đã học (Báo Giáo dục, 2015).
Đối với ngành Công tác xã hội (CTXH), dù đã phát triển lâu đời trên thế giới, tại Việt Nam ngành này mới ở giai đoạn đầu hình thành và hoàn thiện tính chuyên nghiệp. Tính đến năm 2015, cả nước có 42 trường tham gia đào tạo ngành CTXH với khoảng 500 cử nhân tốt nghiệp mỗi năm; tuy nhiên, số lượng này vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu nhân lực thực tế rất lớn của xã hội (Trần Anh Tuấn, 2015). Nhằm đáp ứng nhu cầu đó, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã mở mã ngành và bắt đầu tuyển sinh khóa đầu tiên vào năm 2017 với chỉ tiêu 120 sinh viên.
Mặc dù có nhu cầu nhân lực cao, nghề CTXH đòi hỏi người học phải có sự hiểu biết đầy đủ, say mê và cam kết gắn bó lâu dài do tính chất công việc nhiều áp lực nhưng mức thu nhập ban đầu chưa cao (Trần Công Bình, 2014). Thực tế tuyển sinh cho thấy một bộ phận không nhỏ sinh viên chọn ngành CTXH như một nguyện vọng "cứu cánh" khi kết quả thi đại học không đạt kỳ vọng ban đầu, hoặc chọn ngành khi chưa hiểu rõ bản chất công việc. Đề tài được thực hiện nhằm khảo sát toàn diện thực trạng chọn ngành của sinh viên, tạo cơ sở nâng cao hiệu quả công tác tuyển sinh, hướng nghiệp và đào tạo.
Mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu lý luận về ngành nghề, quá trình chọn ngành, quyết định chọn ngành, đặc điểm ngành CTXH và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chọn ngành CTXH.
- Khảo sát thực trạng mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố đến quyết định chọn ngành CTXH của sinh viên năm nhất tại một số trường đại học ở TP.HCM trên cơ sở tự đánh giá của sinh viên.
- So sánh sự khác biệt giữa các nhóm khách thể (theo trường đại học, năm sinh, hình thức xét tuyển, điều kiện kinh tế gia đình) về các yếu tố tác động đến quyết định chọn ngành.
- Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục nghề nghiệp và định hướng nghề CTXH cho người học.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quyết định chọn ngành CTXH của sinh viên và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định này.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên năm nhất hệ chính quy ngành CTXH tại ba cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn TP.HCM gồm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM và Trường Đại học Mở TP.HCM.
- Giới hạn phạm vi: Đề tài tập trung lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố và đề xuất khuyến nghị định hướng, không thực hiện thử nghiệm can thiệp thực nghiệm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên sự tích hợp các quan điểm tâm lý học, giáo dục học và lý luận chuyên ngành công tác xã hội:
- Khái niệm về nghề và ngành: Nghề được tiếp cận theo phân loại của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 1990), E.Klimov, Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu (2009), Lương Văn Úc (2011). Ngành đào tạo được chuẩn hóa theo Luật Giáo dục Đại học Việt Nam (2012) và Bảng phân loại của Bộ Đào tạo Belarus (2000).
- Đặc điểm tâm lý học sinh THPT trong chọn nghề: Phân tích hoạt động chọn ngành trên ba bình diện nhận thức, thái độ và hành động; đồng thời làm rõ 4 tính chất cơ bản của hoạt động lựa chọn ngành gồm tính chủ thể, tính khách thể, tính mục đích và tính xã hội - lịch sử.
- Mô hình quá trình ra quyết định: Tiếp thu mô hình nhận thức luận về quá trình ra quyết định nghề nghiệp của D. Tiedeman (giai đoạn đoán trước và giai đoạn thực thi), mô hình giai đoạn của Harren (1979: nhận thức, lập kế hoạch, tập trung chú tâm, thực hiện), mô hình các bước ra quyết định và đánh giá sau lựa chọn của Philip Kotler, cùng lý thuyết của Yingxu Wang và Guenther Ruhe (2007).
- Hệ thống các yếu tố ảnh hưởng: Lý thuyết định hướng nghề nghiệp theo tính cách RIASEC của John L. Holland, trắc nghiệm tính cách MBTI; yếu tố tự đánh giá năng lực theo Hossler và Don (1984), Borus (1993); ảnh hưởng gia đình theo Thomas P. Dick và Sharon F. Rallis (1991); các yếu tố môi trường đào tạo theo Kohn, Manski và Mundel (1974), D. Chapman (1981), Agrey và Lampadan (2014).
- Lý luận chuyên ngành Công tác xã hội: Định nghĩa CTXH theo Liên Hợp Quốc (1955), Hiệp hội Nhân viên CTXH Hoa Kỳ (NASW, 1970, 1994), Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc tế (IFSW, 2000), Hiệp hội Quốc tế các trường đào tạo CTXH (2011), ThS. Nguyễn Thị Oanh (2004); 4 mục đích của CTXH theo Hội đồng Giáo dục CTXH Hoa Kỳ (CSWE, Lê Chí An dẫn lại); 4 chức năng nghề nghiệp (phòng ngừa, can thiệp, phục hồi, phát triển); 4 nhiệm vụ cơ bản và tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp quy định tại Thông tư 01/2017/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phương pháp chính): Quy trình thiết kế công cụ đo lường gồm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Thiết kế bảng hỏi sơ bộ (gồm 5 câu hỏi, trong đó có 4 câu hỏi mở) và tiến hành khảo sát thử nghiệm trực tuyến trên 30 sinh viên năm nhất ngành CTXH.
- Giai đoạn 2: Xử lý dữ liệu định tính từ giai đoạn thử nghiệm để hoàn thiện bảng hỏi chính thức.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp sinh viên năm nhất ngành CTXH tại 3 trường đại học khảo sát nhằm bổ trợ và minh chứng sâu cho dữ liệu định lượng.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20 để tính tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (SD), đánh giá độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha, kiểm định Chi-Square và phân tích phương sai ANOVA để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm biến số nhân khẩu học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành CTXH
Chương này tập trung tổng quan lịch sử nghiên cứu và hệ thống hóa khung lý thuyết liên quan đến việc ra quyết định chọn ngành đào tạo:
- Lịch sử nghiên cứu ngoài nước: Điểm lại các nghiên cứu về quá trình chọn nghề của D. Tiedeman, Harren (1979), Rubina, Johnson (1978); các nghiên cứu về năng lực tự tin của Lent (1986), Rotberg (1987); các mô hình chọn trường của Kohn, Manski và Mundel (1974), Bowers và Pugh (1983), D. Chapman (1981), Roslyn Beswick (1989), Loren Agrey và Naltan Lampadan (2014); các công trình nghiên cứu đặc thù về ngành CTXH của Helen Ellsworth và cộng sự (1968), Frieda Kepple Heim (1994).
- Lịch sử nghiên cứu trong nước: Tổng thuật các nghiên cứu về động cơ chọn nghề của Nguyễn Ngọc Bích (1979), Nguyễn Thị Thiều Anh (1996), Ngô Minh Duy (2011), Nguyễn Văn Tòng (2015); các khảo sát về yếu tố tâm lý của Ngô Thị Kim Ngọc (1996), Phan Mạnh Hà (2011); các nghiên cứu về chọn ngành đào tạo cụ thể của Võ Thị Hồng Trước (1994), Lê Thị Thanh (2013), Vũ Anh Tùng (2015); nghiên cứu về xu hướng chọn nghề CTXH của Nguyễn Hữu Hùng (2015).
- Hệ thống hóa 5 nhóm yếu tố tác động đến quyết định chọn ngành:
- Nhóm đặc điểm cá nhân: Tính cách, sở thích, năng lực học tập và nhận thức bản thân.
- Nhóm yếu tố gia đình: Ý kiến định hướng của cha mẹ, truyền thống gia đình, điều kiện kinh tế.
- Nhóm yếu tố xã hội: Ảnh hưởng từ bạn bè, người đang hành nghề, thông tin truyền thông đại chúng.
- Nhóm yếu tố môi trường giáo dục: Hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường THPT và đặc điểm môi trường đào tạo đại học.
- Nhóm yếu tố đặc điểm ngành nghề: Chuẩn đầu ra, cơ hội việc làm, mức điểm trúng tuyển, vị thế xã hội và tính chất lao động đặc thù.
- Khái quát về ngành và đào tạo CTXH tại Việt Nam: Quá trình hình thành đào tạo từ năm 1992 tại Đại học Mở - Bán công TP.HCM (thuộc Khoa Phụ Nữ Học), bước ngoặt ban hành mã ngành và khung chương trình cử nhân năm 2004 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến việc đào tạo bậc cao học từ giai đoạn 2011–2015 tại 4 cơ sở (Học viện Khoa học Xã hội, ĐH KHXH&NV Hà Nội, ĐH Thăng Long, ĐH Lao động - Xã hội).
Chương 2: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành CTXH của SV một số trường ĐH tại TP.HCM
Chương này trình bày dữ liệu khảo sát thực nghiệm trên mẫu sinh viên năm nhất ngành CTXH tại 3 trường đại học trên địa bàn TP.HCM:
- Thống kê khách thể và độ tin cậy thang đo: Khảo sát mô tả mẫu nghiên cứu theo giới tính, trường đào tạo, năm sinh, hình thức xét tuyển và hoàn cảnh kinh tế (Bảng 2.1, Bảng 2.2).
- Thời điểm và mức độ hiểu biết ngành: Phân tích thời điểm sinh viên bắt đầu chọn thi vào ngành CTXH (Bảng 2.3); đo lường mức độ hiểu biết về tính chất nghề nghiệp, quy chuẩn đạo đức và sự khác biệt về nhận thức quy điều đạo đức theo từng trường đại học (Bảng 2.4, Bảng 2.5).
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố: Thống kê điểm trung bình và xếp hạng thứ bậc ảnh hưởng trên toàn mẫu đối với 5 nhóm yếu tố chính:
| Thứ bậc |
Nhóm yếu tố ảnh hưởng |
Bảng dữ liệu tương ứng |
Nội dung khảo sát chi tiết trong văn bản |
| 1 |
Đặc điểm cá nhân |
Bảng 2.7 |
Điểm trung bình và tỷ lệ các yếu tố: sở thích cá nhân, năng lực, tính cách phù hợp. |
| 2 |
Đặc điểm ngành CTXH |
Bảng 2.11 |
Điểm trung bình và tỷ lệ các yếu tố: cơ hội việc làm, tính chất nhân văn, điểm chuẩn trúng tuyển. |
| 3 |
Môi trường THPT và Đại học |
Bảng 2.10 |
Điểm trung bình và tỷ lệ các yếu tố: công tác hướng nghiệp phổ thông, danh tiếng và vị trí trường đại học. |
| 4 |
Yếu tố gia đình |
Bảng 2.8 |
Điểm trung bình và tỷ lệ các yếu tố: định hướng của cha mẹ, truyền thống gia đình, áp lực người thân. |
| 5 |
Yếu tố xã hội |
Bảng 2.9 |
Điểm trung bình và tỷ lệ các yếu tố: tác động của bạn bè, truyền thông, mạng xã hội. |
- Phân tích tương quan và so sánh sai biệt:
- So sánh mức độ tác động của các nhóm yếu tố theo đặc điểm khách thể (Bảng 2.12).
- Kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ảnh hưởng của yếu tố gia đình, xã hội, môi trường đào tạo theo từng trường đại học (Bảng 2.13), theo năm sinh (Bảng 2.14), theo phương thức xét tuyển đại học (Bảng 2.15) và theo điều kiện kinh tế gia đình (Bảng 2.16).
- Đánh giá mức độ hài lòng, tương quan giữa mức độ hài lòng và mức độ chủ động tham gia của sinh viên vào việc ra quyết định chọn ngành (Bảng 2.17); thống kê lý do hài lòng, phân vân hoặc không hài lòng (Bảng 2.18).
- Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp định hướng chọn ngành cho học sinh (Bảng 2.19).
Kết quả và đóng góp
Các kết quả khảo sát chính thu được từ công trình:
- Mức độ tác động của các nhóm yếu tố: Quyết định chọn ngành CTXH của sinh viên chịu sự chi phối mạnh mẽ nhất từ nhóm đặc điểm cá nhân (hứng thú, mong muốn khẳng định bản thân và giúp đỡ xã hội) và nhóm đặc điểm ngành CTXH (cơ hội việc làm, sứ mạng nhân văn). Các nhóm yếu tố môi trường THPT/Đại học, gia đình và quan hệ xã hội có mức độ ảnh hưởng thấp hơn nhưng vẫn tạo ra sự phân hóa giữa các nhóm sinh viên.
- Thực trạng nhận thức nghề nghiệp: Sinh viên có nhận thức rõ nhất về khía cạnh cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp, tuy nhiên mức độ hiểu biết chuyên sâu về các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, điều kiện làm việc thực tế và phẩm chất tâm lý đặc thù của nhân viên CTXH còn hạn chế.
- Sự tương quan với mức độ hài lòng: Những sinh viên có tính chủ động cao trong quá trình ra quyết định chọn ngành, xuất phát từ động cơ bên trong và sở thích cá nhân có mức độ hài lòng với ngành học cao hơn rõ rệt so với nhóm sinh viên chọn ngành do áp lực bên ngoài hoặc chọn ngành như giải pháp thay thế tạm thời.
Hệ thống kiến nghị và giải pháp do tác giả đề xuất:
- Đối với trường THPT: Cần đổi mới và đẩy mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp chuyên sâu, cung cấp thông tin đa dạng về các ngành khoa học xã hội, tránh để học sinh chọn ngành thụ động hoặc thiếu thông tin.
- Đối với các cơ sở đào tạo đại học và Khoa Tâm lý học: Tăng cường truyền thông chính xác về chuẩn đầu ra, tính chất lao động thực tế và tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của ngành CTXH; tổ chức các chương trình sinh hoạt định hướng đầu khóa giúp sinh viên năm nhất củng cố động cơ nghề nghiệp và giảm tỷ lệ thất vọng sau nhập học.
Đóng góp của đề tài:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quá trình ra quyết định chọn ngành học, đặc điểm tâm lý chọn nghề của học sinh phổ thông và các lý thuyết nền tảng trong đào tạo công tác xã hội tại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực nghiệm tại 3 trường đại học lớn ở TP.HCM, làm căn cứ thực tế cho cán bộ quản lý giáo dục, ban tư vấn tuyển sinh và các khoa chuyên môn xây dựng kế hoạch đào tạo, truyền thông tuyển sinh phù hợp với đặc thù ngành CTXH.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Phạm vi nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở khảo sát trên đối tượng sinh viên năm nhất hệ chính quy thuộc ba trường đại học tại TP.HCM; đề tài giới hạn ở việc mô tả thực trạng và xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chứ chưa triển khai thử nghiệm các biện pháp can thiệp giáo dục nghề nghiệp trong thực tế.
- Hướng mở rộng tiếp theo: Cần mở rộng khảo sát trên các nhóm sinh viên từ năm thứ hai đến năm cuối, sinh viên đã tốt nghiệp tại nhiều địa phương khác nhau; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi động cơ nghề nghiệp trong suốt tiến trình đào tạo đại học và xây dựng mô hình can thiệp hướng nghiệp thực nghiệm.
Giá trị tham khảo
Báo cáo nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cán bộ quản lý đào tạo và ban tuyển sinh: Đặc biệt là Khoa Tâm lý học (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM), Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM và Trường ĐH Mở TP.HCM, có thể khai thác các số liệu so sánh giữa các trường để điều chỉnh chiến lược truyền thông, tư vấn ngành học và tổ chức đào tạo đầu khóa.
- Chuyên viên hướng nghiệp và giáo viên phổ thông: Có thể tham khảo bảng tiêu chí các yếu tố ảnh hưởng và bảng biện pháp định hướng (Bảng 2.19) để xây dựng chương trình tư vấn chọn nghề sát thực tế cho học sinh lớp 12.
- Học viên, sinh viên ngành Tâm lý học và Công tác xã hội: Khóa luận là tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc thiết kế bảng hỏi hai giai đoạn, phương pháp kết hợp điều tra định lượng bằng phần mềm SPSS 20 với phỏng vấn sâu.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng số liệu thống kê nào để phản ánh thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp tại Việt Nam?
Khóa luận trích dẫn số liệu từ Báo Giáo dục (2015), ghi nhận cả nước có gần 450 nghìn cử nhân đại học, cao đẳng tốt nghiệp mỗi năm, nhưng 63% không có việc làm và 37% có việc làm thì phần lớn phải đào tạo lại hoặc làm trái ngành đào tạo.
2. Quá trình phát triển đào tạo ngành Công tác xã hội tại Việt Nam được tác giả trình bày qua những mốc thời gian nào?
Theo tổng quan lịch sử đào tạo trong văn bản: năm 1992 môn CTXH lần đầu tiên được đưa vào giảng dạy tại ĐH Mở - Bán công TP.HCM; tháng 10 năm 2004 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mã ngành và chương trình khung cử nhân, cao đẳng; năm 2005 ĐH Mở - Bán công TP.HCM được cấp phép đào tạo cử nhân CTXH; và giai đoạn 2011–2015 có 4 cơ sở được cấp phép đào tạo cao học ngành CTXH.
3. Bốn chức năng cơ bản của Công tác xã hội được hệ thống hóa trong cơ sở lý luận gồm những gì?
Bốn chức năng nghề nghiệp chính gồm: chức năng phòng ngừa (giải quyết các nguy cơ trước khi vấn đề nảy sinh), chức năng can thiệp/trị liệu (trợ giúp thân chủ xử lý vấn đề đang gặp phải), chức năng phục hồi (hỗ trợ phục hồi tổn thương thể chất, tinh thần và xã hội) và chức năng phát triển (tăng cường năng lực và kỹ năng sống cho cá nhân, gia đình, cộng đồng).
4. Khảo sát thực tiễn của đề tài được triển khai trên những đối tượng cụ thể nào và sử dụng công cụ thống kê gì?
Khảo sát được thực hiện trên sinh viên năm nhất hệ chính quy ngành CTXH tại ba trường đại học: ĐH Sư phạm TP.HCM, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM và ĐH Mở TP.HCM. Công cụ xử lý dữ liệu định lượng là phần mềm SPSS 20 với các phép kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích tần số, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định Chi-Square và ANOVA.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Phạm Thanh Hằng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quá trình ra quyết định chọn ngành nghề và các đặc thù chuyên môn của ngành Công tác xã hội. Thông qua khảo sát thực nghiệm trên sinh viên năm nhất tại ba trường đại học ở TP.HCM, nghiên cứu đã làm rõ mức độ tác động của các nhóm yếu tố chủ quan và khách quan, chỉ ra mối tương quan giữa tính chủ động trong chọn ngành với mức độ hài lòng của người học. Những phát hiện thực tiễn và hệ thống kiến nghị từ đề tài cung cấp luận cứ khoa học có giá trị giúp các cơ sở giáo dục đại học và các trường phổ thông nâng cao chất lượng công tác hướng nghiệp, tuyển sinh và đào tạo nhân lực ngành Công tác xã hội.