Tổng quan nghiên cứu
Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng tại Việt Nam, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân nông thôn và thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và đô thị. Tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, vùng ven biển với 5 xã, đến cuối năm 2015 đã có 3 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí NTM. Tổng nguồn vốn đầu tư cho xây dựng NTM trong giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 239 tỷ đồng, trong đó nguồn lực huy động từ dân chiếm khoảng 17%. Tuy nhiên, việc huy động nguồn lực từ dân còn nhiều khó khăn, như mức đóng góp chưa phù hợp với khả năng người dân, hình thức huy động chưa đa dạng và hiệu quả chưa cao.
Nghiên cứu tập trung vào hai xã ven biển Quảng Xuân và Quảng Hưng, đại diện cho vùng có điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tương đồng nhưng kết quả huy động nguồn lực từ dân khác biệt rõ rệt. Mục tiêu nghiên cứu là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động nguồn lực từ dân trong xây dựng NTM, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực này. Phạm vi nghiên cứu từ năm 2011 đến 2015, tập trung vào các hoạt động huy động nguồn lực, mức độ tham gia của người dân và vai trò của các tổ chức chính trị xã hội tại địa phương.
Nghiên cứu có ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp tư liệu tham khảo cho các trường đại học và viện nghiên cứu về phát triển nông thôn. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu hỗ trợ chính quyền địa phương và các nhà hoạch định chính sách trong việc điều chỉnh cơ chế huy động nguồn lực từ dân, góp phần thúc đẩy thành công chương trình xây dựng NTM tại các xã ven biển huyện Quảng Trạch và các vùng tương tự.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và mô hình phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng, trong đó nhấn mạnh vai trò chủ thể của người dân trong quá trình xây dựng NTM. Các khái niệm chính bao gồm:
- Nông thôn mới (NTM): Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg (2010), NTM là mô hình phát triển kinh tế - xã hội với kết cấu hạ tầng hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, xã hội dân chủ, môi trường sinh thái được bảo vệ và đời sống người dân được nâng cao.
- Nội lực cộng đồng: Bao gồm các nguồn lực tài chính, sức lao động, tài sản sở hữu, trí tuệ và quan hệ xã hội của người dân có thể huy động cho phát triển nông thôn.
- Sự tham gia của người dân: Được hiểu là quá trình người dân tham gia vào quyết định, đóng góp nguồn lực, thực hiện và giám sát các hoạt động xây dựng NTM, từ đó nâng cao tính sở hữu và trách nhiệm.
- Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng: Phương pháp tiếp cận phát triển dựa trên việc sử dụng nội lực và năng lực sẵn có của cộng đồng, khuyến khích sự tự chủ và sáng tạo của người dân.
Khung lý thuyết này giúp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực từ dân, bao gồm điều kiện kinh tế hộ, nhận thức của người dân, phương thức huy động và vai trò của cán bộ cơ sở.
Phương pháp nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Hai xã ven biển Quảng Xuân và Quảng Hưng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011 đến cuối năm 2015.
- Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu thống kê về dân số, lao động, kinh tế xã hội, kết quả xây dựng NTM, các văn bản pháp luật và chính sách liên quan.
- Dữ liệu sơ cấp: Phỏng vấn sâu 5 người am hiểu (cán bộ nông nghiệp xã, trưởng thôn, người dân) và khảo sát 80 hộ dân (40 hộ mỗi xã) đại diện các nhóm hộ nghèo, cận nghèo, trung bình và khá giả.
- Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn mẫu đại diện theo tỷ lệ các loại hộ tại địa phương nhằm đảm bảo tính khách quan và đa dạng ý kiến.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu định lượng, kết hợp phân tích định tính từ phỏng vấn nhằm đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp.
- Timeline nghiên cứu: Thu thập dữ liệu và phân tích trong giai đoạn 2015-2016, tập trung vào đánh giá kết quả 5 năm thực hiện chương trình xây dựng NTM.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích định lượng và định tính giúp đảm bảo độ tin cậy và sâu sắc trong việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực từ dân.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Điều kiện kinh tế hộ ảnh hưởng lớn đến khả năng đóng góp của người dân:
Tỷ lệ hộ nghèo tại vùng ven biển huyện Quảng Trạch là khoảng 6,5%, trong đó xã Quảng Đông có tỷ lệ cao nhất 13,3%. Thu nhập bình quân người dân xã Quảng Xuân đạt 25 triệu đồng/người/năm. Hộ có điều kiện kinh tế tốt hơn đóng góp nguồn lực xây dựng NTM cao hơn, thể hiện qua mức đóng góp bình quân/hộ tại xã Quảng Xuân chiếm 20,2% tổng nguồn vốn xây dựng NTM.Nguồn lực lao động trong hộ là yếu tố quan trọng:
Bình quân lao động trong độ tuổi là 2,09 người/hộ, với tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên đạt 97,7% tại xã Quảng Xuân. Sức lao động dồi dào tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động ngày công trong xây dựng NTM, tuy nhiên mức huy động ngày công còn thấp so với tiềm năng.Nhận thức của người dân về chương trình xây dựng NTM còn hạn chế:
Mặc dù đa số người dân được tiếp cận thông tin về chương trình, nhưng một số cán bộ và người dân chưa hiểu đầy đủ về vai trò và trách nhiệm trong huy động nguồn lực. Điều này ảnh hưởng đến sự tự nguyện và hiệu quả đóng góp.Phương thức huy động nguồn lực chưa đa dạng và chưa phù hợp:
Chủ yếu huy động tiền mặt và tài sản, ít huy động ngày công và trí tuệ. Một số địa phương áp dụng mức đóng góp không căn cứ vào thu nhập, gây áp lực cho người dân nghèo. Ví dụ, tại xã Quảng Xuân, người dân tự nguyện đóng góp ngày công và tiền mặt, trong khi xã Quảng Hưng huy động chủ yếu bằng tiền mặt.Vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở quyết định hiệu quả huy động:
Cán bộ xã Quảng Xuân có năng lực, tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động và giám sát, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân. Ngược lại, xã Quảng Hưng còn hạn chế về năng lực cán bộ, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng huy động nguồn lực.
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện kinh tế hộ và nguồn lực lao động là những yếu tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động nguồn lực từ dân. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trong nước và quốc tế về phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng. Nhận thức và phương thức huy động là các yếu tố chủ quan, có thể điều chỉnh thông qua công tác tuyên truyền và đổi mới phương pháp vận động.
So sánh giữa hai xã Quảng Xuân và Quảng Hưng cho thấy vai trò của cán bộ cơ sở và phương thức huy động phù hợp là then chốt để phát huy nội lực người dân. Việc huy động đa dạng nguồn lực (tiền, ngày công, tài sản, trí tuệ) và dựa trên nguyên tắc tự nguyện, công khai, minh bạch giúp nâng cao hiệu quả và tính bền vững của chương trình.
Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ so sánh tỷ lệ đóng góp của người dân theo loại nguồn lực tại hai xã, bảng tổng hợp mức độ hoàn thành các tiêu chí NTM và biểu đồ thể hiện tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo qua các năm để minh họa sự cải thiện kinh tế xã hội song song với huy động nguồn lực.
Đề xuất và khuyến nghị
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức người dân:
Tổ chức các hội nghị, tập huấn, truyền thông đa phương tiện nhằm giúp người dân hiểu rõ vai trò chủ thể và trách nhiệm trong xây dựng NTM. Mục tiêu tăng tỷ lệ người dân hiểu biết về chương trình lên trên 90% trong vòng 1 năm. Chủ thể thực hiện: UBND xã, các tổ chức đoàn thể.Tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ để nâng cao khả năng đóng góp:
Hỗ trợ đào tạo nghề, phát triển mô hình sản xuất hiệu quả, đa dạng hóa ngành nghề, đặc biệt là các mô hình trang trại tổng hợp và nghề truyền thống. Mục tiêu tăng thu nhập bình quân người dân lên 30 triệu đồng/người/năm trong 3 năm. Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp, các tổ chức hỗ trợ phát triển kinh tế.Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực linh hoạt, phù hợp với điều kiện người dân:
Áp dụng các hình thức huy động đa dạng như ngày công, tài sản, trí tuệ, đồng thời xác định mức đóng góp dựa trên khả năng kinh tế từng hộ. Thời gian thực hiện trong 2 năm, có sự tham gia giám sát của cộng đồng. Chủ thể thực hiện: Ban chỉ đạo xây dựng NTM, UBND xã.Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở:
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng vận động, quản lý nguồn lực và truyền thông cho cán bộ xã, thôn. Mục tiêu 100% cán bộ cơ sở được đào tạo trong vòng 1 năm. Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện.Tăng cường giám sát và minh bạch trong sử dụng nguồn lực:
Thiết lập các cơ chế giám sát cộng đồng, công khai tài chính và kết quả sử dụng nguồn lực để tạo niềm tin và khuyến khích người dân tham gia. Chủ thể thực hiện: UBMTTQVN, các tổ chức xã hội.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Chính quyền địa phương và cán bộ quản lý xây dựng NTM:
Giúp hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực từ dân, từ đó xây dựng kế hoạch và chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả chương trình.Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước:
Cung cấp cơ sở khoa học để điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách huy động nguồn lực trong xây dựng NTM trên phạm vi toàn quốc.Các tổ chức phi chính phủ và dự án phát triển nông thôn:
Hỗ trợ thiết kế các chương trình phát triển dựa vào cộng đồng, tăng cường sự tham gia và huy động nguồn lực từ người dân.Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành phát triển nông thôn:
Là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng và huy động nguồn lực.
Câu hỏi thường gặp
Người dân đóng góp nguồn lực trong xây dựng NTM gồm những gì?
Người dân đóng góp bằng tiền mặt, ngày công lao động, hiến đất, tài sản và trí tuệ. Ví dụ, tại xã Quảng Xuân, người dân tự nguyện đóng góp ngày công và tiền mặt để bê tông hóa đường giao thông.Yếu tố nào ảnh hưởng lớn nhất đến việc huy động nguồn lực từ dân?
Điều kiện kinh tế hộ và nhận thức của người dân là hai yếu tố quan trọng nhất. Hộ có thu nhập cao và hiểu biết tốt về chương trình thường đóng góp nhiều hơn.Phương thức huy động nguồn lực hiệu quả là gì?
Phương thức huy động đa dạng, linh hoạt, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, công khai và phù hợp với khả năng người dân được đánh giá là hiệu quả nhất.Vai trò của cán bộ cơ sở trong huy động nguồn lực như thế nào?
Cán bộ cơ sở có vai trò tổ chức, vận động, tuyên truyền và giám sát, quyết định sự thành công của việc huy động nguồn lực từ dân.Làm thế nào để nâng cao sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM?
Tăng cường tuyên truyền, đào tạo nâng cao nhận thức, tạo điều kiện phát triển kinh tế và xây dựng cơ chế huy động phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân.
Kết luận
- Người dân là chủ thể và nguồn lực chính trong xây dựng nông thôn mới tại các xã ven biển huyện Quảng Trạch.
- Điều kiện kinh tế hộ, nguồn lực lao động, nhận thức và phương thức huy động là các yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến việc huy động nguồn lực từ dân.
- Vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở quyết định hiệu quả huy động và sự đồng thuận của cộng đồng.
- Cần đẩy mạnh tuyên truyền, phát triển kinh tế hộ, đổi mới phương thức huy động và nâng cao năng lực cán bộ để tăng cường huy động nguồn lực.
- Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho chính quyền địa phương, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phát triển trong việc thúc đẩy xây dựng nông thôn mới bền vững.
Next steps: Triển khai các giải pháp đề xuất trong vòng 1-3 năm tới, đồng thời tiếp tục nghiên cứu mở rộng phạm vi và đối tượng để hoàn thiện mô hình huy động nguồn lực từ dân.
Các cấp chính quyền và tổ chức liên quan cần phối hợp chặt chẽ, tăng cường đào tạo và truyền thông để phát huy tối đa nội lực người dân trong xây dựng nông thôn mới.