Chương 1 giới thiệu về dé tài nghiên cứu; Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu; Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu; Chương 4 trình bảy kết quả nghiên cứu; Chương 5 trình bày các kết luận và kiến nghị. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Nguôn nhân lực và xây dựng nguồn nhân lực 2. Nguôn nhân lực và xây dựng nguôn nhân lực Theo Ngân hang thế giới (1996): Nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn người” (thé lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.) ma mỗi cá nhân sở hữu.
Nguồn lực con người được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các nguồn vốn khác như tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Ở nước ta, Phạm Minh Hạc (2001) cho rằng “Nguồn nhân lực là tổng thé các tiêm năng lao động cua một nước hay một địa phương, tức là nguôn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nao đó”; Nguyễn Thanh (2002) xác định “nguồn nhân lực đó là tổng thé sức dự trữ, những tiềm năng, nhitng lực lượng thé hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cai tạo tu nhiên, cải tạo xã hội `. Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Như vậy nếu hiểu theo nghĩa tương đối hep, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động.
Do vậy, nó có thé lượng hóa được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, đủ 15 tuổi trở lên có kha năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thô, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tô chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính. Chính vi vay, nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bố nguồn nhân lực theo khu vực, vùng lãnh thô.
Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực, trải nghiệm của người lao động (nhân cách, đạo đức, thâm mỹ, kinh nghiệm làm việc. Xây dựng nguôn nhân lực Xây dựng nguồn nhân lực là tong thé các hình thức, phương pháp. chính sách và biện pháp nhằm hoan thiện và nâng cao sức lao động xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Trong luận văn này chú trọng đến vấn đề tao ra sự bién đối về số lượng và chất lượng chủ yếu là trải nghiệm (kinh nghiệm làm việc) của nguồn nhân lực.
Việc tô chức thực tập. chương trình thực tập của cơ sở giáo dục và tô chức sử dụng trên thực chất có mối liên hệ rat lớn đến công tác xây dựng nguôn nhân lực của xã hội (cấp độ vĩ mô) cũng như của các tổ chức sử dụng (vi mô) và là động lực kinh tế chủ yếu dé thúc day cơ sở giáo dục, tổ chức sử dụng lao động tổ chức chương trình thực tập và tiếp nhận thực tập sinh và “việc làm”, “kinh nghiệm ” dưới góc độ nguồn nhân lực là động lực chủ yếu để thúc đây sinh viên (thực tập sinh) phải thực tập. Quản trị và kỹ thuật 2. Quan trị (Management) Quản tri là một khái niệm rat rong bao gồm nhiều lĩnh vực.
Ví dụ quản trỊ hành chính (trong các tổ chức xã hội), quản trị kinh doanh (trong các t6 chức kinh tế). Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh lại chia ra nhiều lĩnh vực: Quản trị tài chính, quản tri nhân sự, quản tri Marketing, quan tri sản xuất. Có nhiều khái niệm về quản trị khác nhau như: - Đại học Kinh tế Kinh doanh (1994) cho rang Quản tri là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản tri lên đối tượng bi quan tri nhằm dat được mục tiêu đặt ra trong điều kiện bién động của môi trường.Gibson (2001), Quản tri là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để dat được những kết quả ma một người hành động riêng rẽ không thé nao đạt được. - Theo Pham Vũ Luan (2004), Quản tri là tong hợp các hoạt động được thực hiện nhằm đạt được mục đích (đảm bảo hoan thành công việc) thông qua sự nỗ lực (sự thực hiện) của người khác.
Các khái niệm trên có nhiều thay đổi là do sự phát triển của lịch sử nghiên cứu về quản trị của các tác giả có liên quan như.Taylor (1911) đã xuất bản "Những nguyên tắc và phương pháp quản trị khoa học (Principles and methods oƒ scientice manngement". Sau đó, Hery Fayol (1922) tiếp tục cho ra đời "Quản lý công nghiệp và quản lý tổng hop (Industrial and General Administration)". Cho đến năm 1940, các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh đã nhận thấy tính tất yếu phải xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ quan tri viên doanh nghiệp va một hệ thống trường lớp, giáo trình dao tạo quản trị viên đã ra đời với nhiễu nghiên cứu và các khái niệm quản trị mới như ngày nay. Tóm lại, qua các giai đoạn phát triển của quản trị doanh nghiệp chúng ta thấy nỗi bật một vẫn đề là: Xã hội từ chỗ chấp nhận từ từ đến chấp nhận han vai trò của quản trị doanh nghiệp, mà gắn liền với nó là các quản trị viên có nghiệp vụ và các cô vẫn có năng lực vận dụng những kiến thức lý luận quản trị doanh nghiệp vảo thực tiễn.
Ngày nay, nhất là những năm đầu của thập ký 90, ở hầu hết các nước đã hình thành một hệ thống trường lớp dé dao tạo, bồi dưỡng các nhà quản trị doanh nghiệp tài ba đem lại với bản chất của quản tri là tạo ra gia tri thang dư tức tim ra phương thức thích hợp dé thực hiện công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất với chi phí các nguồn lực ít nhất. Nói chung, quản trị là một quá trình phức tạp mà các nhà quản trị phải tiễn hành nhiều hoạt động từ khâu đầu đến khâu cuối của một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực chất của quản trị là quản trị các yếu tô đầu vao, quá trình sản xuất các yếu tố đầu ra theo chu trình quá trình hoạt động của một tổ chức, một doanh nghiệp. Những quan niệm trên cho dù có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng nhìn chung đều thông nhất ở chỗ quản trị phải bao gồm ba yếu tô (điều kiện): Thứ nhất: Phải có chủ thể quan tri là tác nhân tạo ra tác động quản tri vào một đối tượng bị quản trỊ. Đối tượng bị quan tri phải tiếp nhận sự tác động đó.
Tác -10- động có thé chỉ một lần và cũng có thé nhiều lần. Thứ hai: Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả chủ thê và đối tượng. Mục tiêu nay là căn cứ dé chủ thé tao ra các tác động. Sự tác động của chủ thé quản trị lên đối tượng quản tri được thực hiện trong một môi trường luôn luôn biến động.
Về thuật ngữ chủ thé quản trị, có thé hiểu chủ thể quản trị bao gồm một người hoặc nhiều người, còn đối tượng quản trỊ là một tổ chức, một tập thể con người, hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị đất dai, thông tin. Thứ ba: Phải có một nguồn lực để chủ thể quản tri khai thác và vận dụng trong quá trình quản tri. Kỹ thuật Theo Wikipedia (2015), kš thuật (engineering), “2à việc ứng dung kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội, và thực tiễn dé thiết kế, xây dựng, và đuy trì các cấu trúc, máy móc, thiết bị, hệ thông, vat liệu, va quả trình. Kỹ thuật có thé bao gom VIỆC SU dung sự hiểu biết sâu sắc dé tim ra, tạo mô hình, và thay đổi quy mô một giải pháp hợp lý cho một van dé hay một mục tiêu.
Ngành kỹ thuật vô cùng rộng, nó bao gom mot loạt các lĩnh vực kỹ thuật đặc thu hon, mỗi lĩnh vực nhấn mạnh đến những lĩnh vực công nghệ và những kiểu ứng dụng riêng. Những người hành nghệ kỹ thuật được gọi là kỹ sư” Engineers' Council for Professional Development (1947) định nghĩa “kỹ thuật” là “Viéc ứng dung một cách sáng tạo những nguyên lý khoa học vào việc thiết kế hay phát triển các cấu trúc, máy móc, công cụ, hay quy trình chế tao, hay những công trình sử dụng chúng một cách riêng lẻ hay kết hợp với nhau; hay vào việc xây dựng hay vận hành những doi tượng vừa ké với sự ý thức đây đu về thiết kế của chúng; hay để dự báo hoạt động của chúng dưới những điều kiện vận hành nhát định; tat cả những việc vừa kê với sự chú ý đến chức năng đã định, đặc điểm kinh tế của sự vận hành, hay sự an toàn doi với sinh mạng và của cải ” Kỹ thuật là một ngành rộng và thường được chia thành nhiều nganh con. Những ngành này liên quan đến những lĩnh vực công việc kỹ thuật khác nhau. Mặc dù ban đầu người kỹ sư có thể được đào tạo trong một ngành cụ thé, trong suốt sự nghiệp của mình người này có thê trở thành người làm việc liên quan đên nhiêu -ll- ngành va trong những lĩnh vực công việc khác nhau.
Kỹ thuật thường được xem là có bốn ngành chính: kỹ thuật hóa học, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật điện, kỹ thuật cơ khí Như vậy van đề khác biệt lớn nhất của quan tri và kỹ thuật là sự tác động lên các đối tượng khác nhau. Nếu quản trị quan tâm nhiều đến con người thì kỹ thuật lại quan tâm đến máy móc, quy trình, công nghệ. Tuy nhiên cả hai ngành đều có mỗi quan hệ chặt chẽ qua lại với nhau và đều nham mang lại hiệu qua cao nhất trong quá trình cải tạo xã hội phục vụ con người nói chung của các tô chức cu thé nói riêng. Trong luận van nay, tác giả sử dụng các nội dung có liên quan dé làm rõ các điểm chung và những điểm khác biệt nếu có của hai khối ngành nay trong việc đánh giá hiệu quả của thực tập và các yếu tố có liên quan.
Học việc, tập sự và thực tập Theo Meaghan Haire & Kristi Oloffson (2009), khái niệm học việc (apprenticeship) phát triển từ thé ky thứ XI ở các nước phương Tây thông qua các bang hội (guild).