Đặt vấn đề, lí do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lí luận và mô hình nghiên cứu Bao gồm: Các khái niệm liên quan, các mô hình nghiên cứu liên quan, các công trình nghiên cứu liên quan trước đây, xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Bao gồm: Quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thiết kế thang đo, công cụ nghiên cứu. Chương 4: Phân tích dữ liệu Bao gồm: Phân tích dữ liệu sơ cấp và đánh giá kết quả.
Chương 5: Kết luận Bao gồm: Kết luận, các hàm ý quản trị, hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Động lực và động cơ Tìm hiểu về sự tương đồng và khác biệt giữa động cơ và động lực: Động cơ trong giao tiếp chúng ta thường sử dụng với một hàm ý chỉ về một hành động được xem là xấu, trong khi động lực lại mang một ý nghĩa tích cực hơn. Nói dễ hiểu hơn chúng ta có thể thấy từ “động cơ” được sử dụng nhiều trong các phiên toà xét xử, sử dụng khi tra khảo các tội phạm dùng để chỉ ra những hành động có ảnh hưởng xấu đến người khác. Các diễn đàn lớn như Painintheenglish và Grammarly đều đồng tình với những nhận định trên và cho rằng mọi người đều phân biệt rõ ràng giữa động cơ và động lực.
Bên cạnh đó cũng đã có nhiều nghiên cứu lại chỉ ra điều trái ngược với nhiều ý kiến trên đó là động cơ và động lực có thể được xem và sử dụng như những từ đồng nghĩa, và có thể thay thế cho nhau (Gordon, 2011) Có thê hiểu động lực là một thuật ngữ tâm lí được dùng trong giáo dục, được hiểu như thuật ngữ chỉ sự nổ lực và quyết tâm hướng đến mục tiêu đề ra. Có một điều mà mọi người phải biết đó chính là ở Trung Quốc “Dongji” chính là từ từ dịch chung nghĩa của động lực và động cơ, mặc dù động lực không được giải thích là kết quả của quá trình bắt đầu từ bất kì động cơ nào. Đánh giá về khía cạnh ý nghĩa không có nhiều tài liệu nhằm phân biệt rõ về sự phân biệt giữa động cơ, động lực. Nhưng để chỉ ra sự khác biệt thì mọi người có thể suy nghĩ dễ hiểu là “động cơ” chỉ ra một lý do để làm một điều cụ thể mang tính tạm thời và không có mục tiêu rõ ràng, hời hợt.
Trong khi đó “động lực” lại có ý nghĩa là chỉ ra lý do để làm một điều gì đó lâu dài và có ý nghĩa sâu rộng hơn. Động cơ và động lực chúng ta cũng có thể cho chúng là giống nhau khi xét trong một khoảng thời gian nhất định, nhưng khi xem xét và đặt chúng trong lĩnh vực giáo dục, thì dùng khái niệm động lực học tập là phù hợp hơn (Zu, 2014). Trong bài nghiên cứu này mục đích không phải là phân biệt rõ giữa động cơ và động lực giống các bài nghiên cứu ngôn ngữ học. Ở bài nghiên cứu này chỉ sử dụng thuật ngữ động lực và động lực học tập nhằm nghiên cứu một vấn đề cụ thể, và không phân biệt giữa động cơ và động lực.
- Khái niệm động lực Trước hết, để làm rõ khái niệm về “Động lực học tập” chúng ta sẽ cùng phân biệt “Động cơ” và “Động lực”, có thể nói, đây là hai khái niệm khá trừu tượng dễ gây nhầm lẫn, “động cơ” được hiểu là lý do tại sao chúng ta muốn làm việc gì đó, động cơ thúc đẩy con người 7 hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu, làm nảy sinh tính tích cực và quy định xu hướng của hướng tích cực đó. Trong khi đó, động lực có thể được hiểu là tất cả các yếu tố thúc đẩy một cá nhân hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và có định hướng cụ thể cho hoạt động (Jean, 2015). Hay nói cách khác “động cơ” chính là yếu tố kích thích trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành vi, còn “động lực” là lý do dẫn dắt chúng ta để thực hiện hành vi đó. Theo Đỗ Hữu Tài và cộng sự (2016), cấu trúc để phân biệt hai khái niệm này là tôi làm việc này bởi vì tôi muốn… (động cơ) nhằm/để… (động lực) (Đỗ Hữu Tài & Cộng sự, 2016) Trong học tập, động cơ học tập là cái mà sinh viên lấy làm mục tiêu cụ thể để quyết tâm cũng như thoả mãn chính nhu cầu của bản thân họ.
Nói khác hơn, sinh viên học vì cái gì thì đó chính là động cơ học tập của họ (Phan Trọng Ngọ, 2005), còn động lực học tập là những nhân tố kích thích, thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập liên tục của người học nhằm đạt kết quả về nhận thức, phát triển nhân cách và hướng tới mục đích học tập đã đề ra (Phạm Văn Khanh, 2016). Chẳng hạn, mục tiêu trở thành một kế toán chuyên nghiệp có thể làm việc tại công ty nước ngoài với mức lương cao, động cơ học tập sẽ là vừa đạt được kết quả học tập tốt, vừa phải thành thạo ngoại ngữ, khi đó, không chỉ bằng tốt nghiệp loại giỏi mà chứng chỉ ngoại ngữ theo chuẩn quy định cũng sẽ là động lực thôi thúc họ phấn đấu học tập để đạt được. Tóm lại, Động lực học tập bắt nguồn từ động cơ học tập, động cơ học tập phát sinh từ nhu cầu, mục tiêu học tập của cá nhân, theo đó, động lực học tập kích thích thúc đẩy người học hướng tới nhằm đạt được mục tiêu học tập đã đề ra bằng hành động nỗ lực học tập. Hay nói khác hơn, động lực học tập mà việc học nhắm đến thỏa mãn nhu cầu cho người học, dẫn dắt họ tiếp thu kiến thức một cách chủ động.2 Động lực bên trong và động lực bên ngoài Động lực bên trong: Nhiều bạn thường lựa chọn dành thời gian vào đầu tư cho một công việc mà không nghĩ đến lợi ích rõ ràng của nó.
Nguyên nhân chính ở đây là do sự xuất phát từ động lực bên trong hay còn gọi là động lực nội tại. Như vậy động lực nội tại được hiểu như thế nào, động lực nội tại được định nghĩa là việc tham gia vào hoạt động nào đó mà lợi ích chính nó mang lại chỉ là niềm vui của người thực hiện, đó có thể là cơ hội, hài lòng hay sự thú vị về một thách thức nào đó. Động lực ở bên trong có thể xem như là một thái độ, có tồn tại nhận thức và tình cảm. Các yếu tố về khía cạnh nhận thức liên quan trực tiếp đến quyền tự quyết định cũng như sự phát triển về quyền làm chủ khả năng của bản thân.
Còn những yếu tồ về tình cảm thì có liên quan trực tiếp đến các hành động như: sự quan tâm, tò mò, kích thích, thích thú và sự hạnh phúc (Deci, E. 8 Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực bên trong một cá nhana có ý nghĩa tương tự nhưng có hàm ý rộng hơn, bao gồm: “sự tự quyết ( có nghĩa là ưu tiên cho sự lựa chọn và quyền tự chủ của bản thân họ); sự để tâm vào nhiệm vụ (có nghĩa là sự say mê công việc mà họ đang theo đuổi); năng lực (có nghĩa là định hướng chủ động họ yêu thích thử thách); sự tò mò (có nghĩa là họ yêu thích khám phá những thứ mới mẻ và phức tạp); và sự quan tâm (có nghĩa là sự thích thú và đồng cảm) (Amabile & Cộng sự, 1994). Động lực bên ngoài: Các lý thuyết về động lực bên ngoài ngày nay thường dựa trên những nghiên cứu truyền thống đầy vững chắc, có xu hướng hẹp đi nhưng trở nên rõ ràng hơn (Skinner, 1953). Động lực bên ngoài nói một cách đơn giản là yếu tố giúp con người làm việc một cách chủ động hơn, nó liên quan đến vật chất, xã hội hoặc các biểu tượng phần thưởng, cụ thể như: Sự cạnh tranh; sự đánh giá; địa vị; tiền hoặc khuyến khích vật chất khác; tránh sự trừng phạt; hoặc những mệnh lệnh từ người khác (Amabile & Cộng sự, 1994).
Sự khác biệt giữa động lực bên trong và động lực bên ngoài về cơ bản được các tác giả xem xét chính là phần thưởng, cụ thể hơn là lợi ích mà mỗi cá nhân nhận được khi thực hiện một hành động nào đó. Đến đây thì phần nào sự phức tạp về các khái niệm về động lực cũng đã được làm rõ, giúp cho chúng ta dễ dàng cảm nhận hơn. Vẫn còn rất nhiều khái niệm về động lực và các tranh luận đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra, nhưng ở bài viết này chỉ nêu ra những khái niệm đơn thuần và tương đối dễ hiểu nhất. Nghiên cứu này không nhằm phân biệt các yếu tố tác động đến động lực bên trong hay động lực bên ngoài mà tìm hiểu nghiên cứu về sự nỗ lực học tập của các sinh viên.
Nhìn chung nhờ việc phân biệt rõ 2 yếu tố là động lực bên trong và động lực bên ngoài, tác giả đã góp phần làm rõ hơn khái niệm của động lực và đây chính là tiền đề cho những phân tích chuyên sâu hơn về động lực học tập, giúp mang lại cái nhìn khách quan cũng như tính chân thực của nghiên cứu lần này.3 Động lực học tập Đây có lẽ là khái niệm mà chúng ta cần quan tâm nhiều nhất, vì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu mà em đang thực hiện. Một số nhà nghiên cứu tin rằng động lực là yếu tố duy nhất ảnh hưởng trực tiếp đến thành công trong học tập của học sinh, sinh viên, và tất cả các yếu tố khác suy cho cùng tác động đến thành công trong học tập là do chúng ảnh hưởng đến động lực (Tucker, C. Cụ thể, động lực học tập của sinh viên là tiền đề đánh giá và phản ánh thưc tế mức độ định hướng, tập trung và nỗ lực của sinh viên trong quá trình mà học học tập trong trường đại học (Nguyễn Đình Thọ, Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, 2013). Việc học tập sẽ trở nên có ý nghĩa hơn khi mọi người chủ động tham gia vì một lợi ích cá 9 nhân nào đó của chính bản thân họ đã đề ra từ ban đầu, chứ không phải nhằm thỏa mãn một hay nhiều nhu cầu từ phía bên ngoài (Elton, L.
Có những bằng chứng đã cho thấy rằng động lực bên ngoài, chẳng hạn như tiền bạc, địa vị và những áp lực mà chúng ta có thể cảm nhận được, có thể làm suy giảm khả năng học tập (Amabile & Cộng sự, 1990).