chương 1, tác giả đã nêu ra tổng quan về lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả còn nêu tóm lược về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm động lực Theo P. Alexander (2000) Động lực là một quá trình giúp thúc đẩy, định hướng và duy trì hành động một cách liên tục.
Kinman (2001) thì động lực thường được nhấn mạnh bởi sự kích thích một cách trực tiếp đến các cá nhân từ một sự tự nỗ lực bên trong, hoặc là một sự khuyến khích từ môi trường bên ngoài. Theo Merriam-Webster (1997) định nghĩa động lực là các hành động hoặc quá trình thúc đẩy; sự kích thích tạo ra những nỗ lực cho cá nhân nào đó, nói chung động lực là một cái gì đó ( chẳng hạn như nhu cầu hay mong muốn), sẽ là nguyên nhân giúp định hướng hành động của một cá nhân. Theo Keller (2010), động lực thể hện một cách rộng lớn cái con người mong muốn, cái họ chọn để làm và cái họ cam kết để làm. Như vậy, động lực có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng hình chung nó đều nói lên bản chất của động lực là những gì thúc đẩy, quyết định xu hướng hành động của một người, đó là nguồn cảm hứng để thực hiện một mục tiêu nào đó.2 Phân loại động lực Động lực bao gồm động lực bên trong và động lực bên ngoài.
• Động lực bên trong Theo Deci (1975), động lực bên trong là niềm vui và sự thỏa mãn từ việc thực hiện một hành động nào đó; động lực bên trong giải thích việc thực hiện hành động là vì những mục đích riêng, vì sở thích, niềm vui, hoặc sự thỏa mãn bắt nguồn từ kinh nghiệm. Theo Deci & Ryan (2000) cho rằng khi một cá nhân bị thúc đẩy bởi động lực bên trong thì họ sẽ hành động vì niềm vui, vì sự thách thức hơn là áp lực bên ngoài hay phần thưởng. 6 • Động lực bên ngoài Theo như Deci & Ryan (1987) chỉ ra rằng động lực bên ngoài tập trung vào những lý do mang tính định hướng về mục tiêu, ví dụ như những phần thưởng hay lợi ích có được do thực hiện hành động.2 Học tập Theo Lê Hồng Hạnh (2019), học tập là quá trình chúng ta tiếp thu và tiếp xúc thêm các kiến thức mới, kỹ năng mới, bổ sung trau dồi các kiến thức nâng cao từ các kiến thức cơ bản mà bản thân đã được học từ trước. Học là để đi lên, tiến lên phía trước chứ không phải học để dừng lại, để tụt lùi.
Khả năng học hỏi là học những điều tốt đẹp về con người, về các quốc gia, sự học hỏi luôn là vô cùng cần thiết trong việc phát triển bản thân.3 Sinh viên Sinh viên là người đang học ở bậc đại học (Theo Đại từ điển Tiếng Việt, chỉ biên Nguyễn Như Ý, NXB Văn hóa – Thông tin, 1999, trang 1448). Theo Từ điển Giáo dục học: Sinh viên là những người đang theo học các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học, trung cấp nghề (Hiền, Giao, Quỳnh, & Tảo, 2001) Ở đây chúng ta có thể hiểu sinh viên là những người đang học tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp. Ở đó, họ được truyền đạt những kiến thức bài bản về nghề để chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai. Họ được xã hội công nhận thông qua những tấm bằng đạt được trong quá trình học.4 Động lực học tập của sinh viên 2.
Khái niệm về động lực học tập của sinh viên Theo Bomia et al (1997) cho rằng động lực học tập của người học là sự khao khát, mong muốn, hào hứng, cảm thấy có trách nhiệm và đầy nhiệt huyết trong quá trình học tập. Động lực học tập là nguyên nhân dẫn đến hành động của sinh viên (Mer-riam- Webster, 1997). Theo Slavin (2008), động lực học tập là một trong những thành phần có tính chất then chốt nhất trong việc học tập Còn theo như Brophy (1998) cho rằng động lực học tập của sinh viên có thể được 7 định nghĩa là xu hướng của sinh viên tìm kiếm các hoạt động học tập có ý nghĩa và hữu ích và cố gắng đạt được lợi ích học tập từ chúng. Động lực để học tập là sự tham gia và cam kết của sinh viên để học và đạt được điểm học tập xuất sắc có thể tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong tương lai nghề nghiệp của họ (Gottfried, et al.
2001; Murdok và Miller, 2008) 2. Vai trò của động lực học tập của sinh viên Theo Cavas (2011), động lực học tập là một biến giáo dục cơ bản vì nó giúp các kỹ năng, chiến lược và hành vi đã học trước đó có thể thúc đẩy hiệu suất và kết quả học tập. Dornyei và Csizer (1998) khẳng định nếu không có động lực học tập thì chương trình giảng dạy phù hợp và khả năng truyền đạt của giảng viên là không đủ để đảm bảo thành công của sinh viên. Nguyễn Thụy Trúc Anh và cộng sự (2021) cho rằng động lực học tập tạo nên một nguồn sức mạnh, một nguồn năng lực mạnh mẽ khiến chủ thể hành động và duy trì hành động để đạt được kết quả.
Động lực học tập đóng vai trò rất quan trọng vì nó là kim chỉ nam cho hoạt động học tập. Là tất cả những tác động có ảnh hưởng tích cực đến hình thành, phát triển động lực học tập của sinh viên. Còn theo Nguyễn Bá Châu (2018) cho rằng sinh viên có động lực học tập sẽ hoàn thiện bản thân, làm chủ tri thức và thôi thúc tính tích cực trong quá trình học tập và nghiên cứu, giúp sinh viên khắc phục mọi khó khăn để đạt được kết quả cao nhất. Động lực là một vấn đề rất quan trọng trong giáo dục bậc cao bởi kết quả học tập có tầm quan trọng trong suốt cuộc đời sự nghiệp sau này của người học.
Biết được những nhân tố ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên và cái gì sẽ tạo thuận lợi trong việc học, cái gì đứng đằng sau quá trinh học của họ sẽ giúp những người làm giáo dục dự báo được kết quả học tập, có thể đưa ra những sự giúp đỡ đối với sinh viên trước khi điểm số của họ giảm (Kamauru, 2000). Tóm lại, động lực học tập là vô cùng quan trọng đối với người học nói chung, và sinh viên nói riêng. Nếu không có động cơ học tập thì sinh viên không có lòng hứng thú, ham học hỏi và tinh thần trách nhiệm học tập. Các em sẽ né tránh việc học hoặc học theo một kiểu đối phó nào đó dẫn đến kiến thức và kỹ năng thu nhận được sẽ bị hạn chế, kết quả học 8 tập sa sút.
Ngược lại, nếu sinh viên có động lực học tập thì họ sẽ có nhiệt tình và hứng thú học tập, do đó kết quả thường rất khả quan. Các lý thuyết nền • Lý thuyết nhu cầu Maslow Trong bài viết "A Theory of Human Motivation" năm 1943 của Abraham Maslow, ông đã đề xuất một lý thuyết về tâm lý học mà ngày nay chúng ta gọi là Hệ thống nhu cầu của Maslow. Hệ thống nhu cầu của Maslow được áp dụng để nghiên cứu cách mà con người thực sự tham gia vào động lực hành vi. Maslow đã sử dụng các thuật ngữ "sinh lý", "an toàn", "thuộc về tình yêu", "lòng tự trọng" và "tự thể hiện" để mô tả mô hình mà động lực của con người thường di chuyển.
Điều này có nghĩa là để phát sinh được động lực ở giai đoạn tiếp theo, mỗi giai đoạn cần phải được thỏa mãn trong chính cá nhân họ. Bên cạnh đó, lý thuyết có vai trò làm cơ sở chính để được biết nỗ lực và động lực có tương quan như thế nào khi nghiên cứu về hành vi của con người. Mục tiêu trong lý thuyết của Maslow là đạt được cấp độ thứ năm: tự thể hiện hay còn gọi là nhu cầu hoàn thiện. 1: Mô hình tháp nhu cầu Maslow (Nguồn: Maslow, 1943) Vận dụng lý thuyết nhu cầu Maslow vào trong nghiên cứu ta có thể thấy nhu cầu quan trọng nhất đối với sinh viên chính là nhu cầu chiếm lĩnh tri thức và chính nhu cầu này nếu 9 được sinh viên nhận thức một cách đúng đắn thì sẽ trở thành động lực, sự tự điều chỉnh, định hướng cho hoạt động học tập của sinh viên.
• Thuyết nhu cầu đạt được của McClelland Thuyết nhu cầu đạt được của David McClelland cho rằng nhu cầu của một người chính là thành quả họ đạt được từ những trải nghiệm bản thân. Khi nghiên cứu về nhu cầu của các cá nhân khác nhau, ông nhận thấy rằng có thể phân loại chúng thành ba loại đó là thành tựu, quyền lực và liên kết. Nghĩa là trong mỗi người đều có khát vọng đạt được thành tựu, quyền lực hoặc sự liên kết và trong ba nhu cầu đó sẽ có một nhu cầu thúc đẩy họ mạnh hơn hai nhu cầu còn lại. 2: Mô hình Thuyết nhu cầu đạt được của McClelland (Nguồn: McClelland, 1987) Đối với sinh viên cũng như vậy, trong quá trình học tập sinh viên cũng bị chi phối bởi ba nhu cầu: thành tựu, quyền lực và liên kết.
Thứ nhất, đối với nhu cầu thành tựu, sinh viên luôn mong muốn bản thân đạt được những kết quả, thành tích học tập xuất sắc, muốn bản thân phải giỏi giang hơn, thành công những sinh viên khác, thích được đương đầu với những thử thách khó khăn để khẳng định khả năng thực sự của mình và không mong muốn bản thân nhận phải những rủi ro, khó khăn trong học tập. Thứ hai, đối với nhu cầu quyền lực, những người có nhu cầu cao về quyền lực luôn 10 theo đuổi quyền lực và sự phục tùng và họ không quan tâm tới sự tán thành và công nhận của những người khác. Họ nên được trao cơ hội quản lí người khác. Điều này cũng thường xuyên thấy đối với sinh viên, biểu hiện ở chỗ nhiều sinh viên luôn muốn bản thân trở thành ban cán sự của lớp, của trường, trưởng nhóm của đoàn thể, câu lạc bộ,.
Thứ ba, nhu cầu liên kết là nhu cầu của một người có mối quan hệ xã hội và cá nhân với những người khác hoặc với một nhóm người cụ thể.