Chương 1 đã trình bày về bối cảnh cũng như lí do chọn đề tài, các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài một cách cụ thể. Để tiếp tục thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, tác giả sẽ tiến hành bước tiếp theo ở chương 2 liên quan đến nghiên cứu cơ sở lý thuyết, các mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và phát triển các giả thuyết cho nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm Ví điện tử Ví điện tử là một ứng dụng được sử dụng trên điện thoại thông minh có thể chứa được các thẻ thanh toán, các thẻ ưu đãi, thẻ thành viên, thẻ tích điểm… và nhiều thứ khác như một chiếc ví cầm tay thông thường. Ban đầu VĐT chỉ lưu trữ các nhiều dạng tiền điện tử (e-cash) khác nhau nhưng chỉ như vậy là không đủ đáp ứng các nhu cầu của khách hàng nên VĐT đã phát triển thành dạng dịch vụ cho phép khách hàng vừa có thể lưu trữ vừa có thể tiến hành sử dụng thông tin trong các cuộc giao dịch mua bán.2 Phân loại Ví điện tử Hiện nay, Ví điện tử có thể chia làm 2 loại dựa trên phạm vi sử dụng là trong nước và ngoài nước.
VĐT trong nước bao gồm: Momo, Zalo Pay, Payoo, SamsungPay, VnPay, Airpay, 123pay, Moca,… cho phép người dùng thực hiện các giao dịch trong nước. VĐT ngoài nước bao gồm: Paypal, AlertPay, Perfect Money, Moneysbooker,… cho phép người dùng thực hiện các giao dịch trong phạm vi quốc tế.3 Chức năng và vai trò Tính đến thời điểm tháng 10 năm 2020 thì NHNN đã cung cấp giấy phép hoạt động cho 35 doanh nghiệp cung ứng VĐT. Sự cạnh tranh giữa các DN ngày càng gay gắt hơn, đòi hỏi DN phải có chiến lược riêng biệt nhắm vào các đối tượng khách hàng mà họ mong muốn. Vì vậy VĐT ngày càng phát triển với công nghệ và tính năng mới hơn nhưng nhìn chung đa số các VĐT đều có chung những chức năng sau đây: - Nhận và chuyển tiền qua mạng 6 Sau khi đăng kí thành công tài khoản VĐT thì tài khoản đó có thể nhận và chuyển tiền qua mạng bằng nhiều hình thức khác nhau.
Người dùng có thể nạp tiền trực tiếp tại các quầy giao dịch của DN cung cấp VĐT, nạp tại các NH có liên kết với DN cung cấp VĐT, nạp tiền trực tiếp bằng cách liên kết VĐT với thẻ NH và tiến hành nạp thao tác trên điện thoại, nạp tiền thông qua tài khoản VĐT cùng loại… Khi thẻ VĐT có tiền thì người dùng cũng có thể chuyển tiền cho các VĐT cùng loại, chuyển cho tài khoản NH có liên kết với VĐT, …. Thực hiện nhanh chóng, thuận lợi. - Chi trả trực tuyến Trong tài khoản VĐT khi có tiền thì khách hàng có thể dùng để thanh toán các dịch vụ trên mạng Internet như mua sắm online, mua vé máy bay, thanh toán tiền điện nước, thanh toán cước nhà mạng, tiền cước điện thoại… ở trong nước và cả ngoài nước. - Lưu trữ được tiền trên mạng internet Có thể giữ tiền dưới dạng tiền điện tử trong VĐT một cách an toàn.
Vai trò của VĐT: - VĐT đem lại nhiều tiện ích cho người tiêu dùng và cả các DN, góp phần để thương mại điện tử ngày càng phát triển mạnh, là một thành tựu khoa học vượt bậc của nhân loại. - Người bán sẽ tăng được hiệu quả, năng suất hoạt động bán hàng trực tuyến tiết kiệm được thời gian cũng như công sức để thu chi phí,. - Người mua tiết kiệm được thời gian chi trả khi mua onl,. - Các giao dịch nhỏ của khách hàng sẽ không làm NH mất thời gian quản lí.
- Rào cản địa lí không còn là khó khăn thay vào đó dễ dàng chuyển và nhận tiền chỉ với vài cú click - Xã hộ sẽ giảm bớt được một lượng tiền mặt trong lưu thông, làm ổn định mức lạm phát, nền kinh tế đất nước phát triển ,… 7 2.4 Lợi ích và hạn chế của Ví điện tử Lợi ích - Nhanh, gọn, nhẹ, tiện lợi. Khi đi đâu đó không cần phải mang số tiền lớn tránh được rủi ro, với một chiếc điện thoại kèm ứng dụng VĐT quét nhẹ là có thể thanh toán được sản phẩm và dịch vụ. - Nhiều tính năng vô cùng đa dạng. VĐT là nơi tích hợp nhiều tính năng như mã khuyến mãi, thẻ khách hàng vip, đổi điểm thành tiền mặt,… - Mang lại nhiều khuyến mãi hấp dẫn.
Có nhiều mã tặng giảm giá tha hồ mua sắm, du lịch hay chăm sóc sắc đẹp sức khỏe,. - Nơi sử dụng đa dạng. Hiện nay các cửa hàng tiện lợi, điểm du lịch vừa và lớn, nhà hàng, tiệm thuốc tây, ngay cả cây xăng cũng đều chấp nhập hỗ trợ cho khách hàng thanh toán sản phẩm, dịch vụ bằng VĐT. - Thông tin khách hàng hoàn toàn được bảo mật.
Khách hàng khi mất tiền mặt rất khó lấy lại được nhưng với VĐT với bảo mật bằng mật khẩu riêng, hoặc bằng dấu vân tay của chính chủ giảm thiểu được trộm cắp, đột nhập tài khoản bất hợp pháp. - Tránh được việc tiếp xúc dễ lây lan bệnh nhất là trong tình trạng dịch Covid rất phức tạp hiện nay. Hạn chế - Phí dịch vụ còn hơi cao so với những công cụ khác. - Nhiều nơi vẫn chưa chấp nhận sử dụng thanh toán bằng VĐT - Nếu thông tin tài khoản bị lộ rất dễ mất đi tài khoản.
- Yêu cầu cần phải có mạng mới có thể thực hiện các giao dịch.2 Các lý thuyết liên quan Sử dụng VĐT để thanh toán có thể được coi là hành vi tâm lý xã hội con người. Chính vì vậy, các nhà tiếp thị muốn chiến lược tiếp thị trực tuyến về VĐT của họ tốt nhất thì cần phải có một nền tảng tâm lý và kiến thức về hành vi con người. Các lý thuyết được đề xuất trong những năm gần đây dùng để nghiên cứu hành vi con người như: thuyết hành động hợp lý (TRA), thuyết hành vi dự định (TPB), mô hình lý thuyết sự đổi mới (IDT), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), mô hình hợp nhất và chấp nhận công nghệ (UTAUT) là những lý thuyết được sử dụng nhiều nhất.1 Thuyết hành động hợp lí (Theory of Reasoned Action) Vào năm 1975 của thế kỉ 20, thuyết hành động hợp lí (Theory of Reasoned Action) được xây dựng và phát triển bởi Ajzen và Fishbein. Lý thuyết này cho rằng ý định hành vi là sự sẵn sàng của mỗi con người khi thực hiện hành vi nào đó đã được qui định.
Ý định dựa trên các ước lượng gồm: Thái độ dẫn đến hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức về việc kiểm soát hành vi. Theo thuyết hành động hợp lí thì yếu tố quan trọng nhất để quyết định hành vi con người là ý định hành vi, ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi 2 yếu tố: Thái độ hành vi và Chuẩn chủ quan.1 Mô hình Thuyết hành động hợp lí (Theory of Reasoned Action) Nguồn: Ajzen và Fishbein (1975) 9 2.2 Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behaviour – TPB) Thuyết hành vi dự định TPB được phát triển mở rộng dựa trên lý thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) bởi những hạn chế của mô hình ban đầu hoàn toàn là do lí trí kiểm soát. Ngoài các nhân tố thái độ, chuẩn chủ quan, Ajzen (1991) đã chỉnh sửa thêm TRA bằng cách bổ sung nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi PBC (Perceived Behavioural Control) vào TRA để giải quyết được sự hạn chế của TRA. Theo thuyết hành vi dự định TPB, nhân tố báo hiệu thúc đẩy của hành vi tiêu dùng cơ bản nhất là nhận thức kiểm soát hành vi hay ý định hành vi.
Dù là động cơ hay là ý định đều được dẫn dắt bởi 3 tiền tố cơ bản nhất chính là thái độ, chuẩn chủ quan và cuối cùng là kiểm soát hành vi nhận thức. Các khái niệm trong mô hình TPB được trình bày sau đây: - Thái độ (Attitude toward behavior): là cảm xúc tiêu cực hay tích cực của một cá nhân về thực hiện hành vi mục tiêu (Ajzen & Fishbein, 1975, trang 216). - Chuẩn chủ quan (Subjective norm) là “áp lực xã hội nhận thức để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi” (Ajzen, 1991, trang 188). Điều này có nghĩa là cảm nhận của những người quan trọng của một người cho rằng người đó nên hay không nên thực hiện hành vi.
- Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control): là nhận thức mức độ dễ dàng hoặc khó khăn khi thực hiện hành vi, và nó cũng được giả định cho rằng nhận thức kiểm soát hành vi là phản ánh kinh nghiệm trong quá khứ cũng như thấy những trở ngại ở phía trước (Ajzen, 1991, trang 188).2 Mô hình lý thuyết hành vi dự định (TPB) Nguồn: Ajzen, I.3 Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) Dựa trên lý thuyết hành động hợp lý TRA giải thích hành vi của con người nói chung thì Davis (1986) đã phát triển mô hình công nghệ TAM. Mô hình này chủ yếu sử dụng dành cho hệ thống thông tin dự đoán về khả năng chấp nhận một công cụ và xác định các sửa đổi cần phải được đưa vào hệ thống để người dùng chấp nhận được nó (Internet System). TAM hiện nay được sử dụng khá rộng rãi như một cơ sở lý luận dùng trong các nghiên cứu để giải thích cho việc áp dụng công nghệ. TAM cho thấy ai yếu tố chính xác định khả năng chấp nhận của một hệ thống thông tin bao gồm: Nhận thức tính hữu ích (Perceived Usefullness) và nhận thức dễ sử dụng (Perceived Ease of Use).
Các khái niệm trong TAM: - Các biến bên ngoài (External Variables) là các biến ảnh hưởng đến nhận thức tính hữu ích và nhận thức tính dễ sử dụng. Ví dụ như sự đào tạo, dự kiến hoặc khái niệm khác nhau trong sử dụng hệ thống. - Nhận thức tính hữu ích (Perceived Usefulness) là “mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ nâng cao hiệu suất công việc của mình” (Davis, 1989, trang 320). 11 - Nhận thức tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use) là “mức độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ không phải nỗ lực nhiều” (Davis, 1989, trang 320).
Nhận thức tính hữu ích và nhận thức tính dễ sử dụng phản ánh niềm tin về giá trị công việc và người dùng thân thiện với các hệ thống thông tin mới tương ứng. - Thái độ hướng đến sử dụng (Attitude toward Usage) là “cảm xúc tiêu cực hay tích cực của một cá nhân về việc sử dụng hệ thống” (Davis, 1989).