Chương 1 giới thiệu lý do hình thành đề tài, tổng quan về du lịch nông nghiệp tại Lâm Đồng, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2 nêu cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu. Chương 4 thể hiện kết quả phân tích dữ liệu.
Và cuối cùng, chương 5 trình bày kết luận, các kiến nghị, những hạn chế và gợi ý hướng nghiên cứu trong tương lai của đề tài (nếu có). 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Giới thiệu về các cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình nghiên cứu gồm: (1) Các khái niệm cơ bản, (2) Các mô hình nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, (3) Kết quả các nghiên cứu trước, (4) Mô hình nghiên cứu đề xuất, (5) Các khái niệm trong mô hình nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản 2. Định nghĩa dịch vụ Dịch vụ được hiểu là một quá trình tương tác giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng, mục đích của việc tương tác này nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi (Zeithaml & Bitner, 2000).Định nghĩa dịch vụ du lịch Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định (Luật Du lịch Việt Nam, 2005).
Dịch vụ du lịch: Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch (Luật Du Lịch Việt Nam, 2005). Khách du lịch: (1) là khách thăm viếng, lưu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với các mục đích nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao. Ngoài ra còn có khách thăm viếng một ngày (Day Visitor) hay khách tham quan (Excursionist) là loại du khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó dưới 24 giờ và không lưu lại qua đêm.Theo Luật Du lịch năm 2005, “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. (1) Trần Văn Thông, Tổng quan du lịch, NXB.
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2010.Dịch vụ du lịch nông nghiệp Khái niệm du lịch nông nghiệp đã được trình bày ở phần đầu của tài liệu này. Tuy nhiên để hiểu rõ hơn về dịch vụ du lịch nông nghiệp, tác giả có tìm hiểu và kế thừa một số cơ sở nghiên cứu về loại hình du lịch nông nghiệp thông qua đề tài nghiên cứu khoa học của Trương Thị Lan Hương (2012) về “Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch nông nghiệp tại Đà Lạt” như sau: 2.1 Đặc điểm của du lịch nông nghiệp: - Du lịch nông nghiệp thường diễn ra trong môi trường trang trại, nông trại. - Tài nguyên du lịch nông nghiệp chủ yếu dựa vào nền tảng của hoạt động sản xuất nông nghiệp.
- Các chủ thể tham gia tổ chức du lịch nông nghiệp thường là nông dân. - Du khách được tiếp xúc trực tiếp với các hoạt động sản xuất nông nghiệp. - Du lịch nông nghiệp là nguồn thu nhập tăng thêm của các nông trại - Du lịch nông nghiệp có tính thời vụ cao.2 Phân loại du lịch nông nghiệp: Du lịch nông nghiệp (Agritourism) đã hình thành từ rất lâu trên thế giới và thường phổ biến ở Châu Âu (Ở Vuơng quốc Anh có “Rural-tourism” (du lịch nông thôn), ở Mỹ có “ Homestead ” (du lịch trang trại), ở Nhật Bản có “Green-tourism” (du lịch xanh), còn ở Pháp có “Tourism de Verdure” (du lịch với cỏ cây). Tại Nhật Bản: loại hình “du lịch xanh” hay còn được gọi là du lịch tại gia do chính quyền và nhân dân ở Ajimu sáng tạo ra nhằm phát huy thế mạnh về nông nghiệp và truyền thống văn hóa địa phương.
Du khách được tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp như cấy lúa, trồng khoai, trồng rau…. Đặc biệt, du khách có thể tham gia những hoạt động rất thú vị như tắm tại nhà tắm công cộng của làng. Cơ sở lưu trú dành cho du khách được thiết kế theo lối cổ truyền của người Nhật xen lẫn kiểu hiện đại của phương Tây chứng tỏ một sự chuyên nghiệp của chủ nhà trong cách làm du lịch. Mặc dù mới được hình thành từ năm 1996 nhưng mỗi năm thị trấn Ajimu cũng có đến 165.000 khách du lịch từ khắp nơi đổ về và sự thành công của mô hình “ Du lịch xanh” ở Ajimu đã hình thành một phương pháp làm du lịch mới ở Nhật Bản – phương pháp Ajimu.
10 Tại Mỹ: loại hình du lịch nông nghiệp được nhắc đến là “ Du lịch trang trại” với các hoạt động tiêu biểu như: - Xem trồng lúa, ngô, đậu tương hay cho bò, lợn, gà ăn… - Tự tay hái các sản phẩm như hoa quả, lúa, ngô, vắt sữa bò, thu nhặt trứng gà. - Tham quan nhà máy sản xuất cà phê, quy trình chăn nuôi gia súc. - Săn bắn hươu, thỏ, lợn rừng, chim, câu cá (vào mùa cho phép), đây là một hoạt động rất được ưa thích. - Nghiên cứu: dành cho các sinh viên, giáo viên trong bộ môn nông nghiệp (ví dụ như giáo sư có thể giảng dạy sinh viên tại trang trại về quy trình trồng trọt, sản xuất năng lượng sinh học, gió.
- Tổ chức tiệc đám cưới, tiệc sinh nhật ngoài trời. - Tham quan bảo tàng (một phòng, nhà của trang trại) về lịch sử phát triển của bang, trang trại(tranh ảnh, đồ cổ). - Các lễ hội, sự kiện thường được liên kết bởi nhiều trang trại trong vùng hoặc một tổ chức của liên các bang và các công ty nông nghiệp trong sự kiện này. - Các show về sản phẩm cây trồng, gia súc.
- Các show về máy móc, thiết bị chuyên dụng (các loại máy kéo, máy xúc phục vụ nông nghiệp đứng đầu thế giới). - Các sản phẩm làm từ các loài cây thảo dược. Nhiều tác giả đã tiến hành phân loại du lịch nông nghiệp và điển hình có thể kể đến cách phân loại du lịch nông nghiệp của Leeds và Barrett(2004) như hình sau: Phức tạp và chuyên sâu – Nhà hàng, các dịch vụ lưu trú như khách sạn, các loại tour có hướng dẫn Trung bình – có toa xe vận chuyển, các hoạt động mang tính sự kiện, mê cung ngô, các khu vực động vật, bar nhỏ Đơn giản – quầy hàng ven đường, tour nhỏ dành cho học sinh, sinh viên Hình 2.1:Phân loại du lịch nông nghiệp của Leeds và Barrett (2004) 11 Mô hình của Leeds và Barrett (2004) phân loại và xếp hạng các doanh nghiệp nông nghiệp dựa trên mức độ phát triển du lịch nông nghiệp của Jane Eckert. Theo phân loại này, có 3 cấp độ phát triển cho du lịch nông nghiệp thể hiện rõ mối tương tác khác nhau giữa du lịch nông nghiệp với du khách.
Ví dụ, ở cấp độ 1 thì mức độ tương tác với du khách là rất thấp, vì thế thời gian lưu lại không nhiều. Cấp độ 3 là cấp độ phát triển cao nhất khi mà mức tương tác với du khách là nhiều nhất. Điều này cũng thể hiện rõ mức độ phát triển du lịch của từng loại du lịch nông nghiệp. Tuy nhiên, Leeds và Barrett(2004) cũng cho rằng, phần lớn hoạt động du lịch nông nghiệp sẽ không đạt được cấp độ 3.
Việc phân loại và xếp hạng mức độ phát triển của du lịch nông nghiệp theo mô hình của Leeds và Barrett chưa tính đến quá trình phát triển của hệ thống du lịch nông nghiệp vì thế một số yếu tố không được đưa vào như việc liên kết giữa các mô hình hay qua trình quá độ từ cấp độ này lên cấp độ kia. Thực tế, các hoạt động tại du lịch nông nghiệp theo mô hình của Leeds và Barrett (2004) chưa phản ánh được những loại du lịch nông nghiệp có mặt trên thế giới. Vì vậy, có một kiểu phân loại khác thể hiện rõ hơn hệ thống các mô hình du lịch nông nghiệp theo hình 2.2 như sau: Mô hình 2: các lễ hội nông trại và các Mô hình 1: các quầy hàng tại các nông hoạt động thu hoạch, cưỡi ngựa và các trại, bán hàng ven đường hay các tour hoạt động vừa mang tính giải trí, vừa tham quan nhỏ mang tính giáo dục khách tại nông trại Mô hình 5: Tổ chức phối hợp Mô hình 3: các dịch vụ lưu trú, ăn Mô hình 4: bán nông sản trực tiếp cho uống và khu vực mua sắm các resorts, khách sạn, nhà nghỉ.2: Phân loại mô hình du lịch nông nghiệp 12 Mô hình 1: là loại nông trại trong giai đoạn đầu của sự phát triển du lịch. Các nông trại thu hút khách du lịch mua hàng hóa nông nghiệp của họ sản xuất ngay tại nông trại hoặc thông qua các quầy hàng nằm gần nông trại của mình.
Trong mô hình này, nông trại sử dụng một cơ quan điều phối để hỗ trợ Marketing và phát triển các dịch vụ du lịch của nông trại. Một số nông trại tập trung nhiều hơn vào việc tạo ra và duy trì các mối liên kết lâu dài về sau. Mô hình 2: mô hình này cũng thường bắt đầu như mô hình 1 nhưng có sự phát triển sâu hơn về các dịch vụ du lịch như mở thêm các hoạt động mang tính sự kiện, lễ hội, đào tạo và giải trí, vì thế mức độ tương tác với du khách là cao hơn, đồng thời họ cũng tạo dựng mối liên kết rộng hơn thông qua việc mở rộng sản xuất, kinh doanh. Mô hình 3: ở mô hình này có hầu hết các sản phẩm dịch vụ của du lịch và chính vì thế, họ rất chủ động trong việc tìm kiếm và duy trì nguồn khách thông qua các hoạt động nông nghiệp cũng như du lịch và mô hình này cũng thường sử dụng thêm một số khía cạnh liên kết của mô hình 5 để mở rộng thị phần.
Mô hình 4: hoạt động du lịch tại mô hình này được phân loại như một liên kết ngược. Mô tả mối liên hệ ngược liên quan đến việc thu hút người mua là các nhà cung ứng du lịch tại địa phương. Việc liên kết này sẽ tạo ra hiệu ứng tổng hợp để phát triển cả nông nghiệp và du lịch địa phương. Theo đó, các nhà sản xuất nâng cao mức tiêu dùng các sản phẩm địa phương trong du lịch và du lịch sẽ được làm mới và nâng giá trị tăng thêm từ các sản phẩm nông nghiệp thông qua du lịch nông nghiệp.