Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về lý do nghiên cứu, trong đó thực trạng về việc phụ thuộc ngày càng cao vào năng lượng điện để phát triển kinh tế - xã hội và cần có nguồn năng lượng tái tạo thay thế nhằm giảm tác hại môi trường khi phải sử dụng quá mức nhiên liệu hóa thạch để sản xuất ra điện tại Việt Nam. Giải pháp cho bài toán an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường đã được Chính phủ đặt ra, cụ thể là các chính sách khuyến khích phát triển sử dụng nguồn điện mặt trời. Nguồn năng lượng này đáp ứng được các tiêu chí sạch, trữ lượng vô tận và nhất là đảm bảo về mặt bảo vệ môi trường để trở thành nguồn năng lượng phổ biến và hiệu quả sản xuất ra điện. Từ đó, tác giả hình thành mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng điện mặt trời áp mái của người dân tại TP.
7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm về ý định hành vi Theo Ajzen (1991) ý định hành vi được xem là “bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi”.2 Khái niệm về lợi ích cảm nhận Lợi ích cảm nhận là giá trị cá nhân mà người tiêu dùng gán cho sản phẩm hoặc dịch vụ. Lợi ích là cơ sở đưa đến quyết định mua của người tiêu dùng, vì thế để hiểu được lợi ích người tiêu dùng trước tiên cần phải nhận diện những nhu cầu người tiêu dùng mong muốn thực hiện (C. Theo kết quả nghiên cứu của Shwu-Ing Wu (2003) thì cho rằng lợi ích cảm nhận là tổng hợp các ưu điểm đáp ứng nhu cầu hoặc mong muốn của người tiêu dùng (Wu, 2003). Theo Snoj, Korda và Mumel (2004), lợi ích được cảm nhận là “sự kết hợp của các thuộc tính khác nhau của sản phẩm (hữu hình và vô hình; nội tại và bên ngoài, v.), có sẵn liên quan đến một tình hình mua và sử dụng” (Boris Snoj, 2004).3 Khái niệm về rủi ro cảm nhận Khái niệm rủi ro cảm nhận lần đầu tiên được đề cập đến trong nghiên cứu của Bauer (1960) thì cho rằng rủi ro cảm nhận được định nghĩa bao gồm hai yếu tố: Sự không chắc chắn và hậu quả bất lợi của sự không chắc chắn này (Bauer, 1960).
Đến năm 1974, Kaplan đã đưa ra khái niệm rủi ro cảm nhận mang ý nghĩa liên quan đến sự không chắc chắn về mất mát của một giao dịch mua bán và bao gồm 6 nhân tố: (1) Tài chính, (2) sự thực hiện (sản phẩm không đúng chức năng), (3) xã hội, (4) tâm lý, (5) sự an toàn, và (6) thời gian (Leon B. 8 Trong một nghiên cứu khác của John Haynes (1995) và được nhắc lại một lần nữa trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế của Irving Pfeffer thì rủi ro cảm nhận là: “Khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất” (Pfeffer, 1956). Tuy nhiên, quan điểm được xem là hiện đại và nhận được sự đồng tình cao là của Frank H. Knight khi ông cho rằng: “Rủi ro cảm nhận là sự không chắc chắn có thể đo lường được” (Knight, 1997).
Ngoài ra, rủi ro cảm nhận còn được định nghĩa là sự thiếu lòng tin và tác động tiêu cực có thể xảy ra đối với việc mua hàng hóa hoặc dịch vụ. Hay nói cách khác, rủi ro cảm nhận liên quan đến suy nghĩ và niềm tin về khả năng xảy ra kết quả không mong muốn hay hậu quả khi sử dụng dịch vụ hoặc mua hàng hóa (Hamid Reza Khedmatgozar, 2017).4 Các khái niệm về năng lượng Theo Bách khoa toàn thư, nói theo một cách đơn giản thì năng lượng là khả năng để làm một việc gì, năng lượng có trong mọi thứ xung quanh chúng ta và cần thiết cho tất cả các khía cạnh đời sống. Cơ thể chuyển thức ăn thành năng lượng để duy trì cuộc sống cho chúng ta. Nhiên liệu cung cấp năng lượng cho xe chạy.
Năng lượng cũng tạo ra điện, cấp điện cho các hộ gia đình và doanh nghiệp. Trong quá khứ, thuật ngữ Năng lượng đã được tiếp cận và giải thích trong quan hệ vật lý. Không chỉ đến khi năng lượng trở thành một yếu tố quan trọng trong chiến lược công nghiệp hóa và nền tảng của tăng trưởng kinh tế. Năng lượng đã được tiếp cận và thừa nhận ở góc độ kinh tế xã hội.
Theo từ điển mới của Webster, tài nguyên năng lượng bao gồm dầu mỏ, than đá, khí đốt, gió, nhiên liệu hạt nhân, và ánh sáng mặt trời, mà từ đó có thể sản xuất ra hình thức điện, nhiệt,. Năng lượng ngày càng trở nên quan trọng đối với sản xuất công nghiệp và đời sống văn minh của con người trong thế giới hiện đại. Trong khi nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng lớn, tài nguyên thiên nhiên thì lại là hữu hạn, đặc biệt là năng 9 lượng than đá và dầu mỏ đã được sử dụng hết ngày này qua ngày khác. Bên cạnh đó, năng lượng vừa là một phần quan trọng của nền kinh tế và lại là một trong các thành phần có ảnh hưởng lớn đến môi trường, gây ra chất thải độc hại do hoạt động khai thác và sử dụng các dạng năng lượng khác nhau, đặc biệt là nhiên liệu hóa thạch.
Do đó, tìm kiếm các nguồn năng lượng dồi dào và bền vững hơn là một nhiệm vụ của nhân loại và cũng là một cơ hội cho những người trở thành chủ sở hữu các tài nguyên năng lượng mới. Năng lượng tái tạo (Renewable energy) là năng lượng được tạo ra từ các quá trình tự nhiên và liên tục được bổ sung. Nguồn tự nhiên này bao gồm ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, gió, thủy triều, nước và các dạng sinh khối khác nhau. Nguồn năng lượng này không bị cạn kiệt và không ngừng được tái sinh (Stover, 2011).1 Năng lượng mặt trời Năng lượng mặt trời là quá trình chuyển đổi ánh sáng mặt trời thành các dạng năng lượng có thể sử dụng.
Quang điện mặt trời, điện nhiệt mặt trời, sưởi ấm và làm mát bằng năng lượng mặt trời cũng được tạo ra nhờ các công nghệ năng lượng mặt trời. Quang điện mặt trời: Hệ thống quang điện mặt trời là hệ thống biến đổi trực tiếp năng lượng mặt trời thành điện năng. Khối xây dựng cơ bản của hệ thống quang điện mặt trời gồm pin quang điện mặt trời, là một thiết bị bán dẫn được sử dụng để chuyển đổi năng lượng mặt trời thành dòng điện một chiều. Pin quang điện mặt trời được kết nối với nhau để tạo thành mô- đun PV, thường lên đến 50-200W.
Các môđun quang điện mặt trời được kết hợp với các thành phần ứng dụng khác như biến tần, pin, các linh kiện điện, và hệ thống lắp đặt, tạo thành một hệ thống quang điện mặt trời. Các mô-đun có thể được liên kết với nhau để cung cấp năng lượng từ một vài W đến hàng trăm MW.2 Điện mặt trời áp mái (ĐMTAM) Theo Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06/4/2020 đã giải thích “Hệ thống điện mặt trời mái nhà là hệ thống điện mặt trời có các tấm quang điện được lắp đặt trên mái nhà của công trình xây dựng và có công suất không quá 01 MW, đấu nối trực 10 tiếp hoặc gián tiếp vào lưới điện có cấp điện áp từ 35 kV trở xuống của bên mua điện” (TTCP, 2020). Như vậy có thể hiểu hệ thống điện mặt trời mái nhà chính là hệ thống điện mặt trời áp mái mà đề tài nghiên cứu này đã nhắc đến nêu trên. Như vậy, ĐMTAM tạo ra một nguồn điện độc lập, xanh sạch và bảo vệ môi trường và giúp làm giảm hóa đơn tiền điện, thậm chí người dùng có thể không cần tham gia vào mạng lưới điện.
Theo Giáo sư Viện sĩ Trần Đình Long - Phó Chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam - thực hiện mô hình ĐMTAM sẽ góp phần giảm áp lực về điện trong bối cảnh nguồn năng lượng hóa thạch phục vụ cho sản xuất điện đang gặp khó khăn. Trong số những nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam, điện mặt trời có tính khả thi cao, dễ thực hiện, đặc biệt là điện mặt trời lắp mái. Xu hướng của thế giới là hướng đến ngôi nhà thông minh, tích tiểu thành đại, lại không cần phải thay đổi điều kiện cơ sở hạ tầng lưới điện hiện nay (Hoàng, 2017). Theo tác giả Võ Khắc Hoàng (2017) qua bài viết “Năng lượng mặt trời áp mái - nguồn điện hữu ích cho cuộc sống” đã cho biết có 3 mô hình sử dụng ĐMTAM đang được sử dụng phổ biến hiện nay gồm: Hệ thống ĐMTAM độc lập: Hệ thống mặt trời áp mái sẽ chuyển hóa quang năng từ mặt trời thông qua tấm pin hoặc ngói năng lượng thành điện năng và điện năng này được lưu trữ trực tiếp trên acquy, hệ thống hoạt động độc lập và không cần điện lưới quốc gia (Hoàng, 2017).1 Hệ thống ĐMTAM loại độc lập Nguồn: Võ Khắc Hoàng (2017) Hệ thống ĐMTAM độc lập được dùng trong trường hợp: Nơi không có lưới điện quốc gia hoặc chi phí cho việc phát triển lưới điện quá cao.
Có lưới điện nhưng muốn có hệ thống điện của riêng mình. Cần hệ thống điện tuyệt đối, an toàn, hoàn toàn sử dụng điện 1 chiều. Ưu điểm của hệ thống này là tự chủ nguồn điện, không phụ thuộc vào lưới điện quốc gia. Linh hoạt, có thể lắp đặt mọi nơi.
Đặc biệt là không gây ô nhiễm môi trường như sử dụng nhiên liệu hóa thạch để chạy máy phát điện. Nhược điểm của hệ thống là chi phí đầu tư cho hệ thống lưu trữ điện một chiều rất lớn nếu muốn đáp ứng được hoàn toàn nhu cầu sử dụng điện. Việc thay mới hệ thống acquy sẽ tạo ra nguồn xả thải độc hại và khó xử lý cho môi trường (Hoàng, 2017). Hệ thống ĐMTAM nối lưới trực tiếp (On Grid System): Hệ thống ĐMTAM trực tiếp sẽ chuyển hóa quang năng thông qua tấm pin hoặc ngói năng lượng thành điện năng một chiều.
Nguồn một chiều này sẽ được chuyển đổi thành nguồn xoay chiều 12 cùng pha và cùng tần số với lưới điện quốc gia để cấp cho tải, nếu dư sẽ được hòa vào lưới điện (Hoàng, 2017).