chương 1, Luận văn trình bày tiếp 4 chương cụ thể như sau: Chương 2. Trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài. Tóm lược cơ bản lý thuyết hành vi về tuân thủ quy định. Lược khảo các nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu. Tác giả trình bày khung phân tích của đề tài, thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn, đưa ra phương pháp phân tích số liệu cho luận văn. Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu, phân tích thống kê mô tả và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày những kết quả mà đề tài đạt được, các hàm ý chính sách để nâng cao tuân thủ quy định, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân bón trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài gồm thương nhân, kinh doanh, trách nhiệm của thương nhân kinh doanh phân bón.
Trình bày lý thuyết hành vi tuân thủ quy định. Lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến đề tài. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 2. Thương nhân Theo pháp luật Việt Nam quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại năm 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”.
Theo khái niệm này thì thương nhân có các đặc điểm: Phải thực hiện hành vi thương mại; phải thực hiện hành vi thương mại độc lập, mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của bản thân mình; hoạt động thương mại mang tính chất nghề nghiệp của thương nhân là hoạt động thường xuyên, liên tục được thương nhân thực hiện nhằm mang lại thu nhập cho chính thương nhân; phải có năng lực hành vi thương mại; phải có đăng ký kinh doanh, đây là yêu cầu bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức muốn trở thành thương nhân. Thương nhân được phân loại như sau: Thương nhân là cá nhân chịu trách nhiệm vô hạn về mọi nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động thương mại, tự mình gánh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động thương mại; thương nhân là hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ, nếu tài sản chung không đủ thì các thành viên của hộ phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng; thương nhân là pháp nhân chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động thương mại trong phạm vi số vốn, số tài sản của pháp nhân. Về đối tượng là thương nhân trong khái niệm thương nhân, có các khái niệm như sau: Tổ chức kinh tếbao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Khoản 27 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013); doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm 123doc 6 mục đích kinh doanh (Luật Doanh nghiệp năm 2014, Khoản 7 Điều 4); hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người do các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh (Khoản 1 Điều 66 Nghị định 66/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp). Kinh doanh Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, tại Khoản 16 Điều 4: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Liên quan đến kinh doanh là khái niệm hoạt động thương mại, là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Khoản 1, Điều 3 - Luật thương mại). Như vậy, kinh doanh có thể được hiểu là nghĩa rộng của hoạt động thương mại. Hoạt động thương mại được định nghĩa theo Luật thương mại chỉ tập trung vào các hoạt động kinh doanh trong 2 khâu lưu thông và dịch vụ, không bao hàm khâu đầu tư cho sản xuất. Hai lĩnh vực chủ yếu của hoạt động thương mại là thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ gồm: (1) Mua bán hàng hóa (thương mại hàng hóa) là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận (Khoản 8, Điều 3 - Luật Thương mại); (2) Cung ứng dịch vụ (thương mại dịch vụ) là hoạt động thương mại, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận (Khoản 9, Điều 3 - Luật Thương mại).
123doc 7 Đối với hoạt động mua bán hàng hóa, có những thương nhân chuyên kinh doanh mua bán hàng hóa và có những thương nhân đồng thời là nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ. Vì vậy, pháp luật thương mại cũng có một số nội dung liên quan đến quá trình đầu tư sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ như tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ. Trách nhiệm của thương nhân kinh doanh phân bón Phân bón là sản phẩm có chức năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng hoặc có tác dụng cải tạo đất (Điều 3 - Nghị định số 202/2013/NĐ-CP). Các loại phân bón bao gồm: Phân bón vô cơ là loại phân bón được sản xuất từ khoáng thiên nhiên hoặc từ hóa chất, trong thành phần có chứa một hoặc nhiều chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng, có các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; phân bón hữu cơ là loại phân bón được sản xuất từ nguồn nguyên liệu hữu cơ, có các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Phân bón được pháp luật quản lý bằng các quy định tại Nghị định của Chính phủ, từ Nghị định số 113/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2003 về quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón và Nghị định số 191/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 113/2003/NĐ-CP, tiếp đến làNghị định số 202/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 về quản lý phân bón, theo quy định này thì trách nhiệm quản lý nhà nước đối với phân bón vô cơ thuộc Bộ Công Thương, phân bón hữu cơ thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh phân bón phải tuân thủ các điều kiện về kinh doanh phân bón (Điều 15 Nghị định 202/2013/NĐ-CP), trong quá trình kinh doanh nếu không đáp ứng được các điều kiện quy định sẽ bị đình chỉ có thời hạn kinh doanh phân bón cho đến khi đảm bảo đủ các điều kiện theo quy định, bao gồm: (1) Có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó có ngành nghề về kinh doanh phân bón do cơ quan có thẩm quyền cấp; (2) Có cửa hàng hoặc địa điểm kinh doanh, nơi bày bán phải bảo đảm giữ được chất lượng phân bón theo quy định của pháp luật 123doc 8 về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; (3) Công cụ, thiết bị chứa đựng, lưu giữ phân bón phải bảo đảm được chất lượng và vệ sinh môi trường; có phương tiện vận chuyển phù hợp hoặc có hợp đồng vận chuyển phân bón; (4) Có kho chứa hoặc có hợp đồng thuê kho chứa phân bón riêng, đáp ứng được các điều kiện về bảo quản chất lượng phân bón trong thời gian kinh doanh. Đối với các cửa hàng bán lẻ phân bón, trường hợp không có kho chứa thì phải có công cụ, thiết bị chứa đựng, lưu giữ phân bón; (5) Có chứng từ hợp pháp chứng minh rõ nguồn gốc nơi sản xuất, nơi nhập khẩu hoặc nơi cung cấp loại phân bón kinh doanh; (6) Có đủ các điều kiện về phòng, chống cháy nổ, bảo vệ môi trường, an toàn và vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật. Tổ chức, cá nhân kinh doanh phân bón phải áp dụng các biện pháp kiểm soát chất lượng phân bón theo quy định nhằm duy trì chất lượng phân bón do mình kinh doanh; kiểm tra nguồn gốc phân bón, nhãn phân bón, dấu hợp chuẩn, hợp quy và các tài liệu liên quan đến chất lượng phân bón; chấp hành sự kiểm tra, thanh tra của cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện các điều kiện về kinh doanh phân bón theo quy định tại Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động kinh doanh phân bón là: (1) Sản xuất phân bón khi chưa được cấp Giấy phép; (2) Sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu phân bón giả, phân bón đã bị cấm sử dụng; (3) Sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, trao đổi, tiếp thị phân bón không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc kinh doanh phân bón đã hết hạn sử dụng; (4) Xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh phân bón không có hóa đơn chứng từ hợp pháp chứng minh rõ về nguồn gốc nơi sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc nơi cung cấp loại phân bón kinh doanh; (5) Cố tình cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả thử nghiệm, kiểm tra, giám định, chứng nhận chất lượng phân bón; (6) Giả mạo hoặc sử dụng trái phép dấu hợp quy, các dấu hiệu gian lận khác về chất lượng phân bón; (7) Thay thế, đánh tráo, thêm, bớt thành phần hoặc chất phụ gia, pha trộn tạp chất làm giảm chất lượng phân bón so với tiêu chuẩn công bố áp dụng hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; (8) Thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng phân bón, về nguồn gốc và xuất xứ 123doc 9 phân bón; (9) Che giấu thông tin về khả năng gây mất an toàn của phân bón đối với con người và môi trường.LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TUÂN THỦ QUY ĐỊNH 2.