Phần mở đầu Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chƣơng 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nêu một số khái niệm làm cơ sở lý luận cho việc đánh giá mức độ thỏa mãn về dịch vụ cung cấp TTTC, đồng thời cũng đƣa ra một số mô hình lý thuyết về dịch vụ và sự thỏa mãn. Phƣơng pháp nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Trình bày phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm nghiên cứu sơ bộ là nghiên cứu định tính và nghiên cứu chính thức là nghiên cứu định lƣợng. Thông qua nghiên cứu sơ bộ bằng phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp, chƣơng này đã đều chỉnh thang đo SERVQUAL thành thang đo mức độ thỏa mãn của NDTCN đối với dịch vụ cung cấp TTTC để chuẩn bị cho nghiên cứu chính thức.
Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả kiểm định thang đo, kết quả phân tích nhân tố khám phá và kiểm định các mô hình. Chƣơng này cũng kiểm định sự khác nhau về mức độ thỏa mãn của NDTCN theo độ tuổi và bằng cấp. Kết luận, hàm ý và hƣớng nghiên cứu tiếp theo Tóm tắt lại các kết quả chính, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao CLDV và hạn chế của đề tài để định hƣớng cho những nghiên cứu tiếp theo. Tài liệu tham khảo Phụ lục TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƢƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 KHÁI QUÁT DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN TÀI CHÍNH 2.1 Khái quát về dịch vụ Theo lý thuyết marketing một sản phẩm có thể là hàng hóa vật chất (physical good) hoặc dịch vụ (Service) hoặc sự kết họp cả hai.
Tuy nhiên có thể phân biệt giữa hàng hóa và dịch vụ căn cứ vào bốn điếm khác biệt sau : a) Mức độ hữu hình-vô hình (tangibility - intangibility): Hàng hóa là mặt hàng hữu hình có thể thấy, đụng chạm còn đƣợc gọi là sản phẩm vật chất, sản phẩm hữu hình. Dịch vụ là một hoạt động, một việc thực hiện bởi một bên này cho bên kia. Dịch vụ không vật chất và vô hình và rất khó xác định chính xác và rõ ràng. Theo quan điểm marketing cũ: dịch vụ là một chức năng sau khi bán hàng.
Theo quan điểm mới: dịch vụ bao gồm các mối quan hệ tƣơng tác giữa khách hàng với bất kỳ ngƣời nào trong doanh nghiệp. b) Tính chất sản xuất đồng thời (simultaneous production): hàng hóa thƣờng đƣợc sản xuất ở nhà máy, sau đó dự trữ ở kho hoặc ở cửa hàng, chờ đợi khách hàng trƣớc khi đƣợc bán. Dịch vụ thƣờng đƣợc bán trƣớc và sản xuất sau. Hơn nữa, dịch vụ còn đƣợc sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc.
Ngƣời sản xuất hàng hóa ở xa ngƣời tiêu dùng nhƣng ngƣời tạo ra dịch vụ thƣờng có mặt cùng với khách hàng. c) Tính chất không tồn kho (Perishability): dịch vụ không thể tồn kho đƣợc nên khó cân đối giữa cung và cầu dịch vụ. d) Tính chất hay thay đổi (variability): chất lƣợng và kết quả của dịch vụ khác nhau tùy thời điểm, địa điểm, ngƣời tạo ra dịch vụ. Tóm lại, dịch vụ là một quá trình bao gồm các hoạt động phía sau và các hoạt động phía trƣớc nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tƣơng tác với nhau nhằm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thỏa mãn nhu cầu của khách hàng theo cách mà khách hàng mong muốn cũng nhƣ tạo ra giá trị cho khách hàng.
Hầu hết các dịch vụ đều đƣợc tính theo gói. Gói sản phẩm dịch vụ thƣờng bao gồm 3 yếu tố: hàng hóa mang tính vật chất (hàng hóa tiện ích), dịch vụ nổi (lợi ích trực tiếp), dịch vụ ẩn (những lợi ích mang tính tâm lý do khách hàng cảm nhận). Khi cung cấp dịch vụ cần chú ý phối hợp cả 3 yếu tố này để dịch vụ đƣợc thực hiện với hiệu quả cao.2 Dịch vụ cung cấp thông tin tài chính 2.1 Nhà đầu tƣ cá nhân (Individual Investor, Retail Investor, Small Investor) Theo trang http://www.com, NDTCN đƣợc định nghĩa nhƣ sau: là các nhà đầu tƣ mua và bán chứng khoán cho chính tài khoản của họ, chứ không phải cho một công ty hay một tổ chức nào khác. Các NDTCN thƣờng là các nhà đầu tƣ nhỏ, họ thƣờng mua một số lƣợng nhỏ cổ phần hoặc trái phiếu.
Mặc dù có hàng triệu các NDTCN, tổng tài sản của họ chỉ là rất nhỏ so với số cổ phiếu đƣợc sở hữu bởi các tổ chức lớn nhƣ quỹ tƣơng hỗ và các công ty bảo hiểm.2 Thông tin tài chính trên thị trƣờng chứng khoán Khái niệm thông tin (information) đƣợc sử dụng thƣờng ngày. Con ngƣời có nhu cầu đọc báo, nghe đài, xem phim, đi tham quan, du lịch, tham khảo ý kiến ngƣời khác. để nhận đƣợc thêm thông tin mới. Thông tin mang lại cho con ngƣời sự hiểu biết, nhận thức tốt hơn về những đối tƣợng trong đời sống xã hội, trong thiên nhiên,.
giúp cho họ thực hiện hợp lý công việc cần làm để đạt tới mục đích một cách tốt nhất. Khi tiếp nhận đƣợc thông tin, con ngƣời thƣờng phải xử lý nó để tạo ra những thông tin mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng nhất định. Thông tin có thể đƣợc phát sinh, đƣợc lƣu trữ, đƣợc truyền, đƣợc tìm kiếm, đƣợc sao chép, đƣợc xử lý, nhân bản. Thông tin cũng có thể biến dạng, sai lệch hoặc bị phá hủy.
Thông tin đƣợc thể hiện dƣới nhiều dạng thức khác nhau nhƣ sóng ánh sáng, sóng âm, điện từ, các ký hiệu viết trên giấy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hoặc khắc trên gỗ, trên đá, trên các tấm kim loại. Về nguyên tắc, bất kỳ cấu trúc vật chất nào hoặc bất kỳ dòng năng lƣợng nào cũng có thể mang thông tin. Chúng đƣợc gọi là những vật (giá) mang tin. TTTC trên TTCK là những thông tin liên quan đến chứng khoán và TTCK, là những chỉ tiêu phản ánh bức tranh của TTCK và tình hình kinh tế, chính trị tại những thời điểm hoặc thời kỳ khác nhau của từng quốc gia, từng ngành, nhóm ngành.
theo phạm vi bao quát của mỗi loại thông tin. TTTC trên TTCK rất đa dạng và phong phú. Hệ thống thông tin này đƣợc ví nhƣ hệ thống mạch máu trong cơ thể ngƣời, giúp cho thị trƣờng vận hành liên tục và thông suốt, đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà đầu tƣ, cơ quan quản lý đều hành và các tổ chức nghiên cứu. TTCK hoạt động hết sức nhạy cảm và phức tạp, nhƣng phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, công khai, mọi nhà đầu tƣ đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận thông tin.
Không ai đƣợc phép có đặc quyền trong tiếp nhận thông tin, hoặc sử dụng các thông tin nội bộ, thông tin chƣa đƣợc phép công bố để đầu tƣ chứng khoán nhằm trục lợi. Có thể nói, TTCK là thị trƣờng của thông tin, ai có thông tin chính xác và khả năng phân tích tốt thì sẽ đầu tƣ có hiệu quả, ngƣợc lại nhà đầu tƣ thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch (tin đồn) sẽ phải chịu tổn thất khi ra các quyết định đầu tƣ. Có thể phân bổ các thông tin trên thị trƣờng theo các tiêu thức sau: Phân bổ theo loại chứng khoán bao gồm: thông tin về cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ, thông tin về trái phiếu, thông tin về các chứng khoán phái sinh Phân bổ theo phạm vi bao quát bao gồm: thông tin đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán, thông tin ngành, thông tin nhóm ngành, thông tin nhóm cổ phiếu đại diện và tổng thể thị trƣờng, thông tin của Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) hay cả quốc gia, thông tin có tính quốc tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Phân bổ theo thời gian bao gồm: thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo cho tƣơng lai, thông tin theo thời gian (phút, ngày.), thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm.) Phân bổ theo nguồn thông tin bao gồm: thông tin trong nƣớc và quốc tế, thông tin của các tổ chức tham gia thị trƣờng: tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán và thông tin của SGDCK, thông tin tƣ vấn của các tổ chức tƣ vấn đầu tƣ và tổ chức xếp hạng tín nhiệm, thông tin từ các phƣơng tiên thông tin đại chúng (báo, truyền hình, mạng Internet.3 Các nguồn TTTC trên TTCK Thông tin từ tổ chức niêm yết là các thông tin liên quan đến tổ chức phát hành đều tác động tức thời lên giá chứng khoán của chính tổ chức đó, và trong những chừng mực nhất đinh có thể tác động lên toàn bộ thị trƣờng.
Trên TTCK, vấn đề công bố thông tin công ty (corporate disclosure) đƣợc xem là yếu tố quan trọng hàng đầu trong hệ thống thông tin của thị trƣờng, bảo đảm cho thị trƣờng hoạt động công bằng, công khai và hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tƣ. Thông tin từ SGDCK là các thông tin từ cơ quan quản lý và vận hành thị trƣờng, đƣợc công bố cập nhật trên hệ thống thông tin của SGDCK (qua bảng hiển thị điện tử, thuyết bị đầu cuối, bản tin thị trƣờng, mạng Internet, Website. Thông tin từ các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán bao gồm các thông tin về chính các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán (báo cáo tài chính, hoạt động kinh doanh, lƣu chuyển tiền tệ.) và các thông tin liên quan đến tình hình thị trƣờng và nhà đầu tƣ (số tài khoản giao dịch, tỷ lệ ký quỹ, giao dịch bảo chứng, bảo lãnh phát hành, tƣ vấn. Thông tin về giao dịch chứng khoán là các thông tin về giao dịch đƣợc thông báo trên bảng điện tử kết quả giao dịch trên SGDCK và trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng nhƣ: báo, tạp chí.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Dịch vụ cung cấp TTTC trên TTCK Dịch vụ cung cấp TTTC trên TTCK là một lĩnh vực còn khá mới tại Việt Nam. Ở Việt Nam, khái niệm cho lĩnh vực này vẫn chƣa thống nhất và mỗi ngƣời hiểu theo một cách khác nhau và dùng trong các ngữ cảnh khác nhau. Sau đây là một số khái niệm cơ bản: Dịch vụ cung cấp TTTC trên TTCK là dịch vụ chuyên cung cấp các giải pháp TTTC, các báo cáo phân tích cổ phiếu về TTCK cho các công ty chứng khoán, quỹ đầu tƣ, các tổ chức truyền thông trong và ngoài nƣớc, cũng nhƣ đáp ứng nhu cầu thông tin và dữ liệu hằng ngày càng tăng của các NDTCN và tổ chức tại Việt Nam. Dịch vụ cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu về các công ty niêm yết, chƣa niêm yết.
Ngoài ra, dịch vụ cũng cung cấp dữ liệu giao dịch chứng khoán cho các phần mềm phân tích kỹ thuật (www.