phần mở đầu này sẽ tập trung vào việc giới thiệu các khái niệm về nguồn vốn huy động tiền gửi, các loại vốn huy động tiền gửi, và đặc điểm của mỗi loại hình tiền gửi.1 Khái niệm Như tất cả loại hình doanh nghiệp khác, khi bắt đầu thành lập, ngân hàng phải chứng minh cho cơ quan chức năng biết khả năng tài chính của mình, một trong những khoản mục phải chứng minh là nguồn vốn ban đầu vì nó đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của một ngân hàng, nó thể hiện năng lực tài chính, đồng thời là cơ sở để đánh giá giá trị và dự báo sự phát triển trong tương lai của một ngân hàng. Nguồn vốn của NHTM được định nghĩa là “toàn bộ nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập, huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng” (Nguyễn Thị Phương Liên, 2011). Theo Khoản 9, Điều 20, Luật Tổ chức tín dụng 2010 thì tiền gửi được định nghĩa: “là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền”.
Theo Khoản 13, Điều 4 của Luật này thì huy động vốn tiền gửi còn gọi là hoạt động nhận tiền gửi, “nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. 11 Luan van Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, thông qua việc ngân hàng nhận ký thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tắc có hoàn trả các gốc và lãi, đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong bảng cân đối kế toán thì nghiệp vụ huy động vốn được phản ánh bên phần tài sản Nợ.
Do vậy, huy động vốn còn gọi là nghiệp vụ tài sản Nợ. Nguồn vốn từ hoạt động huy động vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn nên nó đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả kinh doanh của NHTM.3 Đặc điểm vốn tiền gửi và dịch vụ huy động vốn 2.1 Đặc điểm Vốn tiền gửi Tiền gửi trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn và là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của của NHTM. Đặc điểm của Tiền gửi: 1) Về mặt lý thuyết đây là một nguồn vốn không ổn định vì khách hàng có thể rút tiền của họ (nhất là tiền gửi không kỳ hạn) mà không bị ràng buộc, vì vậy, các NHTM phải cần duy trì một khoản “dự trữ thanh khoản” để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng; 2) Đây là đối tượng phải dự trữ bắt buộc, đồng thời cũng là một trong những công cụ mà NHTW sử dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ, do vậy, chi phí sử dụng vốn tương đối cao và chiếm tỷ trọng chi phí đầu vào rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM; (3)Đây là nguồn vốn có tính cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. Do vốn huy động chỉ được sử dụng trong các hoạt động tín dụng và bảo lãnh, các NHTM không được sử dụng vốn này để đầu tư sau khi trừ các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán.
Trong xu thế thị trường tài chính ngày càng phát triển các chủ thể trong nền kinh tế sẽ có cơ hội tiếp cận và lựa chọn nhiều hình thức đầu tư hợp lý, đảm bảo an toàn và phát sinh lãi trên phần vốn của mình. Để thu hút khách hàng các ngân hàng buộc phải triển 12 Luan van khai và phát triển nhiều hình thức thu hút vốn khác nhau, ngày càng đa dạng và phong phú.2 Đặc điểm Dịch vụ huy động vốn Đối với khách hàng cá nhân, dịch vụ huy động vốn khách hàng cá nhân mang đầy đủ những đặc trưng của ngân hàng bán lẻ như: 1) Khách hàng là cá nhân nên khối lượng giao dịch rất lớn nhưng giá trị từng giao dịch không cao. Chính vì thế, nguồn nhân lực của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ thường tốn nhiều hơn so với lĩnh vực bán sỉ về số lượng và thời gian phục vụ; 2) Khách hàng cá nhân có số lượng lớn nhưng vẫn còn thói quen giao dịch tiền mặt tại quầy và chưa quen với việc sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử (đặc biệt là tại khu vực nông thôn) nên các ngân hàng thương mại phải mở rộng mạng lưới hoạt động để thu hút và phục vụ nhóm khách hàng này; 3) Tần suất tiếp xúc giữa khách hàng và nhân viên ngân hàng thường cao và có tính lặp đi lặp lại nên chất lượng dịch vụ là điều rất quan trọng trong dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Mặt khác, đây là nhóm khách hàng có tính tự quyết định công việc của mình nên tính phản vệ, bảo vệ lợi ích cá nhân cũng như độ nhạy trong cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng mua lẻ thường cao hơn so với khách hàng mua sỉ.
Bên cạnh đó, dịch vụ huy động vốn khách hàng cá nhân còn có những đặc tính riêng như: 1) Đây là dịch vụ chịu ảnh hưởng của chất lượng các dịch vụ khác có liên quan như Dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, Dịch vụ chi trả lương qua ngân hàng, Dịch vụ thẻ nội địa, thẻ quốc tế, Dịch vụ ngân hàng điện tử; 2) Khách hàng thường yêu cầu nhân viên ngân hàng ra quyết định nhanh và có cam kết về hành động đối với các yêu cầu về giao dịch như: có thể rút tiền nhanh chóng hoặc cam kết nhận tiền gửi với điều kiện giao dịch tại nhà; 3) Khách hàng thường có mối quan hệ thân thiết với nhân viên ngân hàng nên đòi hỏi nhân viên ngân hàng phải được trang bị tốt kỹ năng về chất lượng dịch vụ và khả năng giao tiếp, ứng xử; 4) Khách hàng thường quan tâm cao đối với độ an toàn về khoản tiền của mình tại ngân hàng nên thương hiệu, hình ảnh và khả 13 Luan van năng tài chính của ngân hàng cũng được quan tâm để đảm bảo tính thanh khoản; 5) Vì giao dịch chủ yếu bằng tiền mặt nên khách hàng cá nhân thường có yêu cầu cao về sự thuận tiện khi giao dịch như ngân hàng ở gần nhà, điểm đỗ xe thuận tiện.4 Phân loại nguồn vốn Điều 98 Luật Tổ chức tín dụng 2010 quy định: Hoạt động ngân hàng của NHTM gồm các hình thức nhận tiền gửi sau: (1) Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; (2) Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. Điều 5, Chương 2, Nghị định 146/2005/NĐ-CP ngày 23/11/2005 quy định vốn hoạt động của tổ chức tín dụng, trong đó vốn huy động bao gồm: (1) Vốn huy động tiền gửi của các tổ chức và cá nhân; (2) Vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước; (3)Vay ngân hàng nhà nước; và (4) Phát hành giấy tờ có giá. Căn cứ vào các quy định trên, nguồn vốn của các NHTM có thể chia thành các hình thức: 2.1 Tiền gửi thanh toán (TGTT) Tiền gửi thanh toán (còn gọi là tiền gửi không kỳ hạn): là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ. Ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho khách hàng khi họ có yêu cầu trong phạm vi số dư cho phép.
Lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp nhưng thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng những dịch vụ ngân hàng với chi phí thấp. Mục đích của người gửi tiền chủ yếu là thanh toán, ngoài ra còn được hưởng những tiện ích khác như: an toàn, sinh lời, sử dụng số dư trong tài khoản để chứng minh năng lực tài chính, làm cơ sở bảo đảm tín dụng, sử dụng thẻ thanh toán để rút tiền tự động tại các máy ATM hoặc thanh toán tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ, có thể dễ dàng chuyển đổi sang các hình thức tiền gửi khác, v.v… Dù số dư trên tài khoản TGTT của khách hàng thường không lớn nhưng với số lượng khách hàng đông giúp cho tổng nguồn vốn huy động qua TGTT trở nên khá 14 Luan van lớn. Ngoài ra, việc thanh toán qua tài khoản tiền gửi này còn giúp tăng nguồn thu phí dịch vụ cho các NHTM, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thanh toán bằng tiền mặt của nền kinh tế. Vì vậy, để tăng cường nguồn vốn này, ngân hàng phải kết hợp chặt chẽ giữa các mặt như tổ chức mạng lưới phục vụ khách hàng, cung cấp đa dạng các dịch vụ thanh toán và ngày càng tăng chất lượng dịch vụ cũng như công tác phục vụ, chăm sóc khách hàng.2 Tiền gửi có kỳ hạn (TGCKH) Theo thông tư 49/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 quy định về tiền gửi có kỳ hạn: “Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng và tổ chức tín dụng với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho khách hàng”.
Như vậy, mỗi lần gửi tiền tương ứng với một hợp đồng gửi tiền, trong đó ngân hàng và khách hàng sẽ thỏa thuận cụ thể các nội dung như: ngày gửi, số tiền gửi, lãi suất, hình thức thanh toán gốc và lãi, thời hạn thanh toán, v.v… Đối tượng khách hàng là các Tổ chức kinh tế và các Định chế tài chính với mục đích gửi tiền chủ yếu là sinh lời, đồng thời, mong muốn hưởng lợi các tiện ích khác mà ngân hàng mang lại như: an toàn, sử dụng hợp đồng tiền gửi để cầm cố và chiết khấu tại NHTM hoặc để chứng minh năng lực tài chính; có thể chuyền đổi sang các hình thức tiền gửi khác tùy theo quy định của từng ngân hàng, v.v… Đây là loại tiền gửi tương đối ổn định vì ngân hàng xác định được thời gian rút tiền của khách hàng nên có thể chủ động sử dụng số tiền gửi đó vào mục đích kinh doanh của ngân hàng trong thời gian ký kết.