CHƯƠNG 1 Tác giả trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu với các lý do, tính cấp thiết để lựa chọn đề tài, mục tiêu, phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Các nội dung này giúp ta có cái nhìn bao quát về nội dung, quá trình hình thành nên đề tài, làm nền tảng cho việc tìm hiểu nghiên cứu sâu về các cơ sở lý thuyết liên quan trong các chương tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm 2.1 Khái niệm về sự gắn kết Porter và cộng sự. (1974) được xem là những tác giả đầu tiên đưa ra khái niệm về sự gắn kết với tổ chức.
Nhóm tác giả cho rằng sự gắn kết với tổ chức được mô tả bằng ý định muốn duy trì là thành viên trong tổ chức, sự đồng nhất với các giá trị và mục tiêu của tổ chức. Meyer và Alien (1991) chỉ ra sự gắn kết với tổ chức như là sức mạnh đồng nhất của cá nhân với tổ chức và sự tích cực tham gia vào trong tổ chức. Đặc biệt gắn kết với tổ chức được đặc trưng bởi ba nhân tố: (1) sự đồng nhất: có niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận mục tiêu cùng các giá trị của tổ chức; (2) Cố gắng: tự nguyện cố gắng vì tổ chức; (3) Trung thành: ý định hoặc mong ước mạnh mẽ sẽ ở lại cùng tổ chức. Denison và cộng sự.
(2011) cũng định nghĩa sự gắn kết với tổ chức như là trạng thái tâm lý của thành viên trong tổ chức, phản ánh mức độ cá nhân chấp nhận những đặc điểm của tổ chức. Tương tự, Van Grinsven và De Natris (2008) cũng định nghĩa sự gắn kết với tổ chức như là sự ràng buộc hay liên kết giữa các cá nhân và tổ chức. Theo Allen và Meyer (1991) thì sự gắn kết với tổ chức là một trạng thái tâm lý biểu thị mối quan hệ của nhân viên với tổ chức, liên hệ mật thiết đến quyết định có tiếp tục là thành viên trong tổ chức hay không. Theo Appelbaum và cộng sự.
(2013), sự gắn kết với tổ chức là lời hứa và cam kết của nhân viên về trách nhiệm trong tương lai đối với tổ chức. Với Denison và cộng sự. (2011) sự gắn kết với tổ chức là lòng trung thành của nhân viên với tổ chức, sẵn sàng nỗ lực hết mình vì mục tiêu, giá trị của tổ chức và mong muốn duy trì là thành viên của tổ chức. Theo Meyer và Gagnè (2008), sự gắn kết với tổ chức là sự sẵn sàng làm việc tích cực vì tổ chức, cảm thấy tự hào là một thành viên của tổ chức và có sự gắn kết chặt chẽ với tổ chức.
6 Như vậy, sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là trạng thái tâm lý thể hiện sự gắn kết của một cá nhân với một tổ chức, với nghề nghiệp; đó là lòng trung thành và sự nhiệt tình làm việc của nhân viên đối với tổ chức; đó là sự sẵn sàng nỗ lực hết mình vì tổ chức, luôn đặt lợi ích của tổ chức lên trên lợi ích của bản thân mình. Những cá nhân có mức độ gắn kết với tổ chức càng cao sẽ càng hài lòng với công việc của họ, sẽ ít nghĩ đến việc rời bỏ và gắn kết với tổ chức khác. Do đó, việc tạo sự gắn kết giữa người lao động và nhà trường là trách nhiệm thuộc về nhà trường để làm sao người lao động muốn ở lại làm việc và cống hiến cho trường nhiều hơn nữa.2 Vai trò của sự gắn kết Nguồn nhân lực luôn là vốn quý nhất của mọi tổ chức trong đó có HUFLIT. Nếu HUFLIT có thể tuyển được những người lao động giỏi luôn làm việc đạt năng suất cao.
Nhưng song song đó, nhà trường không tạo được sự gắn kết giữa họ và tổ chức thì một ngày nào đó họ cũng tìm tới một môi trường làm việc mới phù hợp mong muốn của họ. Theo Kurt và cộng sự. (2016), ngoài tiền thưởng, tổ chức cần phải tìm ra các yếu tố khác cũng như phương pháp tiếp cận mới phù hợp của các yếu tố động viên để đạt được thành công trong việc gắn kết các nhân viên. Những nhân viên gắn kết với tổ chức thường là những người hào hứng với công việc, hoàn thành và vượt mức chỉ tiêu đặt ra, biết tìm tòi cái mới, đưa ra những sáng kiến và tự nguyện đảm nhận các công việc khó, khuyến khích người khác làm việc tốt hơn, tự hào về tổ chức và có nhiều khả năng gắn kết lâu dài với tổ chức.
Như vậy, trong công tác quản trị nguồn nhân lực, tạo ra sự gắn kết của người lao động đối với tổ chức là rất quan trọng, góp phần phát triển tổ chức nhanh, mạnh và bền vững. Nhà quản trị biết sử dụng tốt các nguồn lực khác để xây dựng nguồn lực con người dồi dào, đầy năng lực, nhiệt huyết và gắn kết thì đó là khối tài sản vô giá của tổ chức.3 Các phương pháp tạo sự gắn kết của người lao động với Nhà trường Có nhiều phương pháp tạo sự gắn kết người lao động với tổ chức, ở đây tác giả chỉ đề cập tới 3 phạm vi cùng những phương pháp cụ thể: 7 - Gắn kết nhận thức: thông qua các chia sẻ thông tin, động viên kịp thời, truyền cảm hứng, cụ thể hóa các mục tiêu, mà thước đo là lòng trung thành. - Gắn kết cảm xúc: lắng nghe đồng nghiệp, cấp dưới chia sẻ, hỗ trợ những khó khăn, tạo sự yêu mến của người lao động với tổ chức, thước đo là sự hài lòng. - Gắn kết hành vi: thông qua 2 phạm vi trên, người lao động cảm thấy tổ chức như một ngôi nhà thứ hai và họ tự nguyện muốn làm tất cả những gì tốt nhất cho tổ chức phát triển bền vững nhất.1 Thuyết nhu cầu của Maslow Sự gắn kết của người lao động đến tổ chức đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của đơn vị.
Sự gắn kết của người lao động sẽ được tăng lên và sẽ cống hiến nhiều hơn cho tổ chức khi các nhu cầu của người lao động được đáp ứng và thỏa mãn. Chính vì thế hiểu được nhu cầu và thỏa mãn, các doanh nghiệp cần sử dụng thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow (1908 – 1970). Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow (1943) thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới. Nhu cầu loại cao Vượt lên chính mình 5 Được đánh 4 Được thừa nhận 3 Được an toàn 2 Nhu cầu loại thấp Tồn tại 1 Hình 2.1 Tháp nhu cầu năm bậc của Maslow 8 Con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu.
Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Đồng thời, việc nhu cầu được thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người. Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người. Nói cách khác, người lãnh đạo hoặc quản lý có thể điều khiển được hành vi của nhân viên bằng cách dùng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của họ làm cho họ hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc được giao, phấn chấn hơn và tận tụy hơn khi thực hiện nhiệm vụ của mình.
Trong trường hợp ngược lại, việc không giao việc cho nhân viên là cách thức giảm dần nhiệt huyết của họ và cũng là cách thức để nhân viên tự hiểu là mình cần tìm việc ở một nơi khác khi làm việc là một nhu cầu của người đó. Trong một doanh nghiệp hoặc tổ chức, cần vận dụng thuyết thang bậc nhu cầu của Maslow để thúc đẩy nhân viên làm việc hiệu quả. Nhu cầu cơ bản có thể được đáp ứng thông qua việc trả lương tốt và công bằng, cung cấp các bữa ăn trưa hoặc ăn giữa ca miễn phí hoặc bảo đảm các khoản phúc lợi khác như tiền thưởng theo danh hiệu thi đua, thưởng các chuyến tham quan, du lịch, thưởng sáng kiến. Sự phản đối của nhân viên khi đồng lương không đủ nuôi sống họ cũng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản cần phải được thực hiện ưu tiên.
Nhu cầu an toàn là một động lực mạnh mẽ đối với hành vi của con người. An toàn là nhu cầu tuy không cần thiết bằng nhu cầu tồn tại nhưng rất gần gũi với chúng ta. Đôi khi nhu cầu này còn thu hút sự quan tâm của chúng ta nhiều hơn hẳn các nhu cầu khác như nhu cầu được thoải mái, xinh đẹp hay bất kỳ nhu cầu tận hưởng nào khác. Nhu cầu an toàn và được bảo vệ được xếp ưu tiên sau nhu cầu thể chất bao hàm cả an toàn về tính mạng và an toàn về tinh thần.
An toàn về tính mạng nghĩa là bảo vệ cho người ta tránh được các nguy cơ đe dọa cuộc sống và an toàn về tinh thần là tránh được mọi sự sợ hãi, lo lắng, bất an. Tất cả mọi người lao động đều mong muốn có được cảm giác an toàn vì đây là một trong hai nhu cầu thiết yếu cần ưu 9 tiên để được thỏa mãn. Vì tính an toàn là yếu tố rất quan trọng đối với sự phát triển của cảm xúc và tinh thần nên nhân viên luôn tìm cách nâng cao mức độ an toàn của mình đồng thời giảm thiểu mức độ rủi ro. Nhu cầu xã hội là người lao động cần được tạo điều kiện làm việc theo nhóm, được tạo cơ hội mở rộng giao lưu giữa các bộ phận, khuyến khích mọi người cùng tham gia ý kiến phục vụ sự phát triển doanh nghiệp hoặc tổ chức.
Doanh nghiệp hoặc tổ chức cần có các hoạt động vui chơi, giải trí nhân các dịp kỷ niệm hoặc các kỳ nghỉ khác để đáp ứng nhu cầu phát triển quan hệ của nhân viên. Nhu cầu được tôn trọng là người lao động cần được tôn trọng về nhân cách, phẩm chất. Bên cạnh được trả tiền lương hay có thu nhập thỏa đáng theo các quan hệ thị trường, họ cũng mong muốn được tôn trọng, ngưỡng mộ các giá trị của bản thân. Nhu cầu tự hoàn thiện đòi hỏi nhà quản lý cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân của nhân viên.
Đồng thời, người lao động cần được đào tạo và phát triển, được khuyến khích tham gia vào quá trình cải tiến trong doanh nghiệp hoặc tổ chức và được tạo điều kiện để họ tự phát triển nghề nghiệp.