Chương 1: Giới thiệu: nêu thực trạng vấn đề, lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, phạm vi – đối tượng và thời gian nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết : giới thiệu các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Đồng thời giới thiệu các nghiên cứu trước có liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: giới thiệu phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, khái niệm các biến sử dụng trong mô hình.
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: thực hiện phân tích kết quả nghiên cứu định tính từ người sử dụng lao động, kết quả thống kê mô tả, mối tương quan giữa các biến, kết quả hồi quy và kết quả dự báo. Chương 5: Kết luận và kiến nghị: dựa vào kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng xin được việc làm cho người lao động có trình độ tại các KCN thuộc thành phố Biên Hòa – Đồng Nai. Trang 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này trình bày các khái niệm, các lý thuyết và những nghiên cứu trước có liên quan tới đề tài nghiên cứu, từ đó tìm ra các yếu tố có ảnh hưởng tới khả năng xin việc làm của lao động có trình độ để đưa vào mô hình nghiên cứu. Các khái niêm ̣ có liên quan 2.
Khái niê ̣m viê ̣c làm Lao động và việc làm có mối quan hệ mật thiết với nhau. Theo Nguyễn Thúy Hà (2013), lao động là một hành động của con người tác động vào giới tự nhiên. Để thực hiện quá trình lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công cụ tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống của con người. Lao động là một hoạt động không thể thiếu được của con người.
Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm. Theo ILO (1952), “việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”. Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, ILO còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền vững. Việc làm bền vững là tổng hợp những nguyện vọng của con người về công việc của họ.
Nó liên quan đến cơ hội cho những công việc có hiệu quả và đem lại thu nhập công bằng, an ninh tại nơi làm việc và bảo trợ xã hội cho các gia đình, triển vọng tốt hơn cho sự phát triển cá nhân và hội nhập xã hội, tự do cho mọi người thể hiện mối quan tâm của họ, tổ chức và tham gia vào các quyết định ảnh hưởng của họ cuộc sống và sự bình đẳng về cơ hội và điều trị cho tất cả phụ nữ và nam giới. Theo luật Lao động Viê ̣t Nam (2012, điều 9) đã định nghĩa: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. Các hoa ̣t đô ̣ng đươ ̣c xác đinh ̣ là viê ̣c làm bao gồ m: Các công viê ̣c đươ ̣c trả công dưới da ̣ng tiề n hoă ̣c hiê ̣n vâ ̣t; những công viê ̣c tự làm để ta ̣o ra thu nhâ ̣p cho bản thân hoă ̣c cho gia điǹ h mình nhưng không đươ ̣c trả công cho công viê ̣c đó.
Trang 4 Để phân loại việc làm, theo Nguyễn Thúy Hà (2013), phân loại việc làm theo tính chất có việc làm thời gian đầy đủ hoặc không đầy đủ; việc làm tạm thời và cố định; việc làm không thường xuyên; việc làm theo thời vụ. Việc làm phụ thuộc vào hoạt động sản xuất của xã hội. Một người lao động có việc làm khi người đó có được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Thông qua việc làm để người đó thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập cho ho ̣.
Người Việt Nam vẫn còn quan niệm rằng chỉ khi làm việc trong các cơ quan Nhà nước mới là có viê ̣c làm ổ n đinh. ̣ Chính vì vâ ̣y mà nhiều người lao đô ̣ng cố gắ ng tìm kiế m mô ̣t công viê ̣c trong khu vực kinh tế Nhà nước. Tuy nhiên, với nề n kinh tế mở và những chính sách, quy đinh ̣ của Nhà nước như hiện nay thì nhiều người lao động đã quan tâm hơn tới các khu vực kinh tế ngoài Nhà nước họ đã sẵn sàng tìm một công việc ở bấ t kỳ khu vực kinh tế nào, miễn là công viê ̣c đó không bi ̣ pháp luâ ̣t ngăn cấ m và tạo ra thu nhâ ̣p cao cho ho ̣. Như vậy, xin đươ ̣c viê ̣c làm có nghiã là đươ ̣c nhâ ̣n vào làm viê ̣c ta ̣i mô ̣t tổ chức kinh tế nào đó với thời gian làm việc ổn định và nhận đươ ̣c thu nhâ ̣p.
Khái niê ̣m thấ t nghiê ̣p Ở bấ t kỳ nề n kinh tế nào cũng tồ n ta ̣i tình trạng thấ t nghiê ̣p. Có nhiều quan điểm khác nhau về thất nghiệp của các nhà Kinh tế học trên thế giới tùy thuộc vào từng giai đoạn của xã hội. Smith (trích bởi Mạc Văn Tiến - 2012), thất nghiệp là do sự biến động trong sản xuất, do sự tích tụ tư bản trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, do sự can thiệp quá mức của Nhà nước trong việc di chuyển của người lao động giữa các ngành trong thị trường lao động. Theo Keynes (trích bởi Mạc Văn Tiến - 2012), vấn đề thất nghiệp không phải là hiện tượng độc lập của nền kinh tế mà đó là kết quả của các quy luật nhất định để đạt được sự cân bằng của hệ thống kinh tế.
Ông cho rằng thất nghiệp phụ thuộc vào tiền công danh nghĩa. Samuelson (1991) cho rằng: “ Thất nghiệp là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất”. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO (1952), “Thất nghiệp là sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc”. Ba mươi năm sau, ILO lại đưa ra khái Trang 5 niệm về “người thất nghiệp” và khái niệm này đã được đón nhận rộng rãi ở cộng đồng quốc tế; “Người thất nghiệp bao gồm toàn bộ số người ở độ tuổi làm việc theo quy định trong thời gian điều tra, có khả năng làm việc, nhưng không có việc làm và vẫn đang đi tìm kiếm việc làm”.
Một số nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam đã đưa ra những khái niệm về thất nghiệp. Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội (1988), “thất nghiệp là hiện tượng mà người có sức lao động, có nghề, muốn đi làm việc, không có việc làm và đã đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền”. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (1996), “thất nghiệp là tình trạng trong đó người có sức lao động trong độ tuổi lao động không có việc làm và đang cần tìm một việc làm có trả công”. Đô ̣ tuổ i lao đô ̣ng đươ ̣c quy đinh ̣ trong luâ ̣t lao động ở Viê ̣t Nam đối với nam từ 15 tuổ i đến 60 tuổ i và nữ từ 15 tuổ i đến 55 tuổ i.
Theo định nghĩa trên, nế u chưa có viê ̣c làm mà không hề đi tìm viê ̣c thì không nằ m trong lực lươ ̣ng lao động Tại khoản 4 điều 3 Luật BHXH (2014), người thất nghiệp được định nghĩa là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp dồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm. Về phân loa ̣i thấ t nghiê ̣p Theo lý thuyết kinh tế học của Samuelson và Nordhalls (Trích bởi Phan Thị Cành và các tác giả -2001), thất nghiệp gồm các loại như: - Thất nghiệp tự nguyện gồm những người có khả năng được tuyển chọn, họ muốn đi làm nhưng chỉ đi làm khi có mức lương cao hơn mức lương bình quân phổ biến của ngành nghề mà họ có năng lực trên thị trường lao động. - Thất nghiệp không tự nguyện gồm những người muốn làm việc với mức lương bình quân phổ biến của ngành nghề mà họ có năng lực trên thị trường lao động nhưng họ không được tuyển dụng, không có việc làm. - Thất nghiệp tạm thời gồm những người vì lý do nào đó họ chủ động xin nghỉ việc này và đi tìm công việc khác.
Theo Sharp & các cộng sự (1996), thất nghiệp tạm thời bắt nguồn từ cung lao động và có tính chuyển tiếp. Thất nghiệp gồm có: - Thất nghiệp cơ cấu gồm những người không có việc làm khi tay nghề hoặc kỹ năng của họ không phù hợp với yêu cầu tuyển dụng trên thị trường lao động. Trang 6 - Thất nghiệp chu kỳ gắn với chu kỳ của ngành và nền kinh tế, gồm những người có nhu cầu làm việc với mức lương đang thịnh hành nhưng không tìm được việc do mức cầu chung về lao động của ngành và của nền kinh tế giảm thấp. Xảy ra trong nền kinh tế suy thoái.
Theo Begg & các cộng sự (2008) đã đề cập đến khái niệm thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển, thất nghiệp xảy ra khi tiền lương được cố ý duy trì cao hơn mức mà tại đó đường cung và đường cầu lao động cắt nhau. Khái niê ̣m lực lượng lao động Gordon (1994), lực lượng lao động là những người có viê ̣c làm trong khu vực dân sự, các lực lươ ̣ng vũ trang và những người thất nghiê ̣p. Begg & các tác giả (2008), lực lượng lao động là những người có việc làm hoặc có đăng ký tìm việc. Theo ILO (1952), lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Theo luâ ̣t lao đô ̣ng Viê ̣t Nam (2012), lực lượng lao động gồm những người lao động từ 15-60 tuổ i đố i với nam và từ 15-55 tuổ i đố i với nữ đang có viê ̣c làm hay đang tìm viê ̣c làm đươ ̣c tính vào lực lươ ̣ng lao đô ̣ng.