Chương 1: Tổng quan về dé tài nghiên cứu, dé cập lý do hình thành đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi va đôi tượng nghiên cứu, và ý nghĩa cua đê tài. 6 - Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu đã được thực hiện trước đây có liên quan đến dé tài, từ đó rút ra mô hình nghiên cứu áp dung cho dé tài. - Chương 3: Giới thiệu phương pháp nghiên cứu, nêu lên trình tự nghiên cứu. thiết kế nghiên cứu bao gồm xây dựng thang đo, thiết kế bang câu hỏi, phương pháp lay mẫu.
- Chương 4: Trình bày các kết qua, dữ liệu khảo sát từ để xác định yếu tố ảnh hưởng chính đến việc gia tăng tong chi phi dự án. Trình bay va phân tích kết quả từ phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận kết quả - Chương 5: Kết luận và kiến nghị, trong đó sẽ tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, hạn chê của nghiên cứu và nêu định hướng cho các nghiên cứu tiêp theo. 7 CHUONG II: CO SO LY THUYET 2. CAC ĐỊNH NGHĨA VA KHÁI NIỆM - Dự dn: Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000, dự án là một quá trình đơn nhất, gom một tap hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành dé đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gôm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực.
- Vượt chỉ phí: (cost overrun) Jackson và Steven (2001), đã định nghĩa vượt chi phí là sự khác biệt giữa chi phí thực tế của dự án (tại thời điểm xem xét) và giới hạn chi phí của nó. Nó xảy ra khi mục tiêu kết quả chi phí của dự án vượt quá giới hạn chi phí, giới hạn chi phí đưa ra mức chi phí tối đa mà Chủ đầu tư được chuẩn bị gánh chịu sau khi dự án hoàn thành, trong khi mục tiêu chi phí đưa ra khuyến nghị chi phí cho mỗi yếu tố trong dự án. Chi phí xây dựng vượt tầm kiểm soát tăng thêm áp lực đầu tu, tăng chi phí xây dựng, ảnh hưởng đến ra quyết định dau tư, lãng phí tài chính quốc gia và có thé dẫn đến tham nhũng hoặc hành vi phạm tội (Ali và Kamaruzzaman, 2010). Ngoài ra, Endult, Akintoye và Kelly (2009) cho rang vượt chi phí là chi phí tăng thêm ngoài chi phí hop đồng thống nhất trong hồ sơ dự thầu.
- Chủ dau tr: Theo Luật xây dựng, Chủ đầu tư là t6 chức, cá nhân sở hữu vốn hoặc người thay mặt chu sở hữu hoặc người vay vốn va trực tiếp quản ly, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư - Nhà thầu: Theo Luật xây dựng, nhà thầu trong hoạt động xây dựng là tô chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng. năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động xây dựng. - Nhà thấu chính: Theo Luật xây dựng, trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng nhận thầu trực tiếp với chủ đầu tư xây dựng công trình để thực hiện phần việc chính của một loại công việc của dự án đầu tư xây dựng công trình. - Nhà thâu phụ: Theo Luật xây dựng, trong hoạt động xây dựng là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà thầu chính hoặc tổng thầu xây dựng dé thực hiện một phan công việc của nhà thầu chính hoặc tong thau xay dung.
Nha thau phụ được Nha thầu chính chỉ định mà không thông qua đánh giá của Chủ đầu tư. 8 - Nhà thâu phụ chính: Theo Luật dau thầu. là nha thầu phụ đảm nhiệm việc thực hiện khối lượng chủ yếu hoặc quan trọng của gói thầu thi công và được Nhà thâu chính dé xuất nhưng phải được Chủ đầu tư đánh giá. - Nhà thầu phụ cấp 1: Theo thông lệ quản lý dự án thi công công trình, Nhà thâu phụ cấp 1 được hiểu là Nhà thầu phụ có tên trong Hợp đồng với Nhà thầu chính và được Chủ dau tư quản lý như một Nhà thầu chính thức của dự án.
- Nhà thầu phụ cấp 2: Theo thông lệ quản lý dự án thi công công trình, Nhà thâu phụ cấp 2 được hiểu là Nhà thầu phụ ký hợp đồng với Nhà thầu phụ cấp 1. Chủ dau tư và Nhà thầu chính hầu như không quản lý được cấp Thau phụ từ cấp 2 trở di. - vấn: Tw Theo Luật xây dựng, là nha thầu tham gia dau thầu cung cấp các sản phẩm đáp ứng yêu cầu về kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn. CÁC NGHIÊN CỨU CÓ TRƯỚC Omoregie và Radford (2006) đã đưa ra 13 yếu tố ảnh hưởng đến gia tăng chi phí và làm chậm trễ dự án dự án trong nghiên cứu của mình tại Nigeria bao gồm: Biến động giá; Yếu tổ liên quan đến tài chính và việc thanh toán; Quan lý Hợp đồng yếu kém; Cham trễ trong thực hiện dự án, Thay đối các điều kiện công trình; Thiếu hụt nguyên vật liệu; Dự toán chi phí không chính xác; Thay đổi thiết kế; Gia tăng phạm vi công việc; Phải nhập khẩu nguyên vật liệu và máy móc; yếu tố liên quan đến Thau phụ và Nhà cung cấp trung gian; Thời tiết; Hành vi lừa đảo và lại quả.
Lê Hoài Long, Lee và Lee (2008) trong nghiên cứu về “Chậm trễ và vượt chỉ phí trong các dự án lớn ở Việt Nam: so sánh với một số nước khác” đã khảo sát 21 yếu tố dẫn đến chậm trễ và vượt chỉ phí trong các dự án lớn tại Việt Nam bao gom: Kho khan tai chính của Chu đầu tu; Cham thanh toán; Quản lý và giám sát công trường không tốt: Kho khăn tài chính của Nhà thầu; Phương pháp thi công không phù hop; Năng lực của Thau phụ; Sai sót trong quá trình thi công: Hỗ trợ quản lý công trường không tốt; Dự đoán chỉ phí không chính xác; Thiết kế không phù hợp; Quản lý Hợp đồng yếu kém; Chậm kiểm tra công trình/hạng mục đã hoàn thành; Thay đổi thiết kế trong quá trình triển khai dự án; Chậm trễ trong việc thông tin giữa các bên; Gia tăng phạm vi công việc trong quá trình triển khai dự án; Thiếu hụt nguồn cung Nguyên liệu; Kỹ năng của công nhân yếu kém; Biên động giá; Không lường trước được điêu kiện công trường; Điêu kiện thời tiệt xâu; 9 Các trở ngại đến từ Chính phủ. Trong đó, Lê Hoài Long xác định ba nguyên nhân hang đầu dẫn đến vượt chỉ phí trong các dự án lớn ở Việt Nam như chỉ phí nguyên vật liệu tăng do lạm phát, ước tính khối lượng không chính xác và chỉ phí lao động tăng do hạn chế về môi trường. Flyvbjerg, Holm và Buhl (2002, 2004, 2010) đã nghiên cứu các yếu tố dẫn đến vượt chi phí trong các dự án công trong ngành giao thông vận tải. Thông qua mẫu khảo sát 258 cơ sở hạ tầng giao thông vận tải trên toàn thế giới, kết quả cho thấy các dự án đường sắt có mức vượt chỉ phí cao nhất (trung bình tăng 45%), kế đến là các dự án đường bộ và cầu.
Nguyên nhân chính của việc vượt chi phí được Flyvbjerg chi ra là do ước tính chỉ phí thấp hơn giá trị thực. Và ước tính chi phí thấp này không phải do lỗi khi thực hiện dự toán mà là kết quả của báo cáo chiến lược/ báo cáo khả thi sai, điều này đồng nghĩa với việc nói đối dé dự án có thé được tiễn hành. Báo cáo chiến lược/báo cáo khả thi sai có thé dẫn đến phân bồ sai các nguồn lực quan trọng hoặc khan hiếm, làm giảm nhà tài trợ và người sử dụng hạ tầng, có thể là đối tượng nộp thuế hay các nhà đầu tư tư nhân. Tác giả cũng nhân mạnh răng, những kết luận này không nên được hiểu như là một cuộc tan công vào chi tiêu công cho co sở hạ tầng (so với tư nhân), vì dữ liệu không đủ để quyết định xem dự án tư nhân thực hiện tốt hơn hoặc tôi tệ hơn so với dự án công về ước tính chỉ phí thấp.
Và những kết luận đó cũng không đảm bảo rằng chỉ công kích vào chỉ tiêu trong các dự án giao thông vận tải với chi tiêu trong các dự án khác, bởi vì những dự án khác cũng ước tính chi phí thấp va chi phí leo thang giống như các dự án giao thông vận tai, với các dự án giao thông vận tai là một trường hợp nghiên cứu chuyên sâu. Cũng nghiên cứu các yếu tố dẫn đến vượt chi phí trong các dự án xây dựng, Rahman và cộng sự (2013) đã thực hiện một cuộc khảo sát tại Malaysia. Kết quả cho thay, trong số 7 nhóm yếu tố với 35 yếu tô dẫn đến vượt chi phí có 3 yếu tố có ý nghĩa nhất là (¡) Lạm phat giá nguyên vật liệu, (11) Khó khăn dòng tiền và tải chính của Nhà thầu, (iii) Quản lý và kiểm soát công trình yếu kém. Theo Apolot và cộng sự (2013), 5 yếu tố cơ bản nhất dẫn đến vượt chỉ phí và thời gian trong các dự án công bao gồm: thay đối phạm vi công việc, chậm trễ trong thanh toán, kiểm soát và giám sát yếu kém, Chi phí vốn quá cao (vi dụ lãi vay, phí tài chính cao.), sự không ôn định của nên chính tri.
10 Giang Dang va Low Sui Pheng (2013) đã rút ra kết luận các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của các dự án cơ sở hạ tầng tại Việt Nam bao gom 5 yếu tố: Năng lực nhận thức van dé của Chính phủ, thiếu minh bach và giải trình trong các dự án hạ tầng, thiếu khung thu hồi đất hiệu quả, năng lực dự đoán yếu kém, năng lực yếu kém của các Nhà thầu trong nước.3 DE XUẤT CÁC YEU TO ANH HUONG DEN VIỆC GIA TANG CHI PHI CUA DU AN TUYEN TAU DIEN NGAM SO 1 THANH PHO HO CHi MINH, TUYEN BEN THÀNH - SUOI TIEN Các yếu tố nay tổn tại dọc theo suốt thời gian của quá trình dau tu từ khi có chủ trương đầu tư, ngay trong quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng và đặc biệt là cả quá trình khai thác, sử dụng các đối tượng đầu tư được hoàn thành. Xét đến mục tiêu xác định các yếu t6 ảnh hưởng và nguyên nhân gây gia tăng Chi phí dự án (cost overrun) của Dự án tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố H6 Chí Minh và sự tương đồng về các điều kiện dự án có quy mo lớn được thực hiện tại Việt Nam, đề tài lựa chọn các yếu t6 trong kết quả nghiên cứu của Lê Hoài Long (2008) làm cơ bản.