chương 1 là chương 2 sẽ trình bày các khái niệm về cơ sở lý thuyết liên quan và đưa ra mô hình đề xuất nghiên cứu của đề tài. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Một số khái niệm liên quan 2.1 Giảng viên “Giảng viên” là người chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng. Trình độ của các giảng viên từ cấp bậc Đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Nhiệm vụ của giảng viên được phân theo từng hạng (3 hạng) Mỗi hạng giảng viên sẽ có những yêu cầu, điều kiện và tiêu chuẩn phù hợp (Theo Thông tư 28/2009/TT- BGDĐT, Thông tư 15/2017/TT-BGDĐT, Thông tư 47/2014/TT-BGDĐT).
Theo Wikipedia năm 2020 thì “Giảng viên” là công chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng. Giảng viên chính là công chức chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt trong giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng và sau đại học, thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học, cao đẳng. “Giảng viên” là ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo được xếp cho viên chức, chuyên làm nhiệm vụ giảng dạy ở bậc cao đẳng, đại học. Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư.
Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên (Theo Ngân Hàng Pháp luật căn cứ vào Luật giáo dục đại học và Luật giáo dục). Theo Phạm Đức Việt (2015), “Giảng viên” là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở các trường cao đẳng và đại học. Giảng viên là viên chức thuộc ngành giáo dục, đào tạo, một chức danh của các trường cao đẳng và đại học. Tóm lại, “Giảng viên” là người thuộc công chức, có chuyên môn và đảm nhiệm việc giảng dạy, truyền đạt các kiến thức cho sinh viên ở các bậc đại học, cao đẳng và trung cấp.
Giảng viên là người có trình độ kiến thức từ cấp bậc thạc sĩ trở lên.2 Sinh viên Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia năm 2020 thì “Sinh viên” là những người đăng ký, tham gia học tập tại các trường đại học, cao đẳng hoặc trung cấp nghề nghiệp. Sinh viên tham gia các lớp học trong khóa học để đạt được mức độ thành thạo môn học theo hướng dẫn của người hướng dẫn, và dành thời gian bên ngoài lớp để thực hiện bất kỳ hoạt động 8 nào mà giảng viên chỉ định là cần thiết cho việc chuẩn bị lớp học hoặc để gửi bằng chứng về sự tiến bộ đối với sự thành thạo đó.VN cho rằng “Sinh viên” là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Họ được giảng dạy và truyền đạt những kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học.
Theo Từ điển Giáo dục học “Sinh viên là người học của cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học”. Theo Luật Giáo dục đại học “Sinh viên là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, theo học chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình đào tạo đại học” Nhìn chung, “Sinh viên” là những người tri thức trẻ trong tương lai, là bộ phận tiên tiến của xã hội, có trình độ học vấn cao, có khả năng tiếp nhận cái mới, biết thay đổi để thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại. Họ được theo học các khóa học cao hơn sau trung học, được đào tạo các kiến thức chuyên sâu về một ngành nghề trong tương lai. Họ là những người đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.2 Lý thuyết về chất lượng mối quan hệ 2.1 Chất lượng mối quan hệ Theo Dwyer và công sự (1987), Chất lượng mối quan hệ (Relationship quality) là sự cảm nhận của khách hàng theo ba phương diện chính trong mối quan hệ, khởi đầu khái niệm chất lượng mối quan hệ gồm ba yếu tố cơ bản cấu thành nên chất lượng mối quan hệ chính là niềm tin, sự hài lòng và tối thiểu hóa chủ nghĩa cơ hội.
Crosby và cộng sự (1990) là người tiên phong đề xuất cấu trúc nghiên cứu của chất lượng mối quan hệ trong lĩnh vực bảo hiểm, cho rằng chất lượng mối quan hệ là cảm nhận của khách hàng về lòng tin và sự hài lòng đối với người bán, từ đó phản ánh mối quan hệ tích cực giữa họ. Các nghiên cứu sau về chất lượng mối quan hệ của các tác giả như Bejou và cộng sự (1996), Dorsch và cộng sự (19980), Roberts và cộng sự (2003), Golicic (2007), đều kế thừa từ mô hình nghiên cứu của Crosby và cộng sự (1990). Theo Smith (1998), Chất lượng mối quan hệ là bảng liệt kê những thành quả của mối quan hệ có ý nghĩa và nó phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu, mong đợi của các bên liên quan trong mối quan hệ. Chất lượng mối quan hệ thể hiện khả năng làm hài lòng 9 khách hàng về mối quan hệ với người đại diện bán hàng với ba yếu tố là niềm tin, sự hài lòng và cam kết.
Theo nghiên cứu của Henning-Thurau và cộng sự (1997), Jarvelin và Lehtinen (1996), Wong và Sohal (2002) cho rằng chất lượng mối quan hệ là mức độ thích hợp của mối quan hệ nhằm đáp ứng những nhu cầu của khách hàng đồng hành với mối quan hệ đó. Chất lượng mối quan hệ đo lường được nhận thức của khách hàng về mối quan hệ, sự gắn kết thực sự so với mong đợi và dự đoán. Thể hiện được mục đích và mong muốn của khách hàng về mối quan hệ này. Ayodele và cộng sự (2013) chỉ ra rằng chất lượng mối quan hệ là một chỉ số quan trọng của việc điều chỉnh tâm lý cá nhân.
Nó có rất nhiều yếu tố như tính cách, thái độ và các yếu tố môi trường, có ảnh hưởng đến toàn bộ các mối quan hệ của một người theo nhiều cách khác nhau. Xét theo trạng thái thì chất lượng mối quan hệ được xem là những mối quan hệ cá nhân theo hai hướng tích cực và tiêu cực. Một mối quan hệ tích cực khi các tương tác cá nhân có ý nghĩa, chia sẻ lẫn nhau và có suy nghĩ tích cực về nhau. Khi một mối quan hệ tiêu cực thì các cá nhân sẽ công kích lẫn nhau, tạo ra căng thẳng, khủng hoảng hoặc cố gắng hạ thấp nhân cách lẫn nhau (Lê Thị Bích Diệp, 2017).
Nhìn chung, các khái niệm về chất lượng mối quan hệ của các tác giả trên đều có điểm chung đó là chất lượng mối quan hệ là cảm nhận của mỗi cá nhân trong một mối quan hệ giữa chính họ với một cá nhân hay một tổ chức khác. Cảm nhận này được thể hiện qua hai trạng thái cảm xúc theo hướng tích cực và tiêu cực. Trong đó, cảm nhận theo hướng tích cực thì họ sẽ thể hiện qua quá trình tương tác, giao tiếp tốt với nhau, họ tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau và hài lòng trong mối quan hệ này, cùng nhau duy trì và phát triển mối quan hệ tốt trong tương lai. Ngược lại, cảm nhận theo xu hướng tiêu cực thì mối quan hệ này sẽ tạo ra sự mâu thuẫn, thù địch gay gắt giữa hai bên.
Từ đó, mối quan hệ này sẽ không được họ duy trì và phát triển trong tương lai, vì khi tiếp tục duy trì thì sẽ trở nên xung đột cao hơn.2 Khung khái niệm về chất lượng mối quan hệ Mô hình lý thuyết nghiên cứu chất lượng mối quan hệ của Athanasopoulou được đề xuất và xây dựng từ năm 2009 với sự tổng hợp 64 bài báo, nghiên cứu các cuộc kiểm tra từ năm 1987. Mô hình lý thuyến này cũng được vận dụng, hiệu chỉnh trong các nghiên cứu sau này. Mô hình này cho thấy được các yếu tố tác động đến chất lượng mối quan hệ (Lòng tin, Cam kết, Sự hài lòng khách hàng, Xung đột, Sự hợp tác, Chủ nghĩa cơ hội, 10 Quyền lực, Sự thích ứng, Bầu không khí, Sự liên kết). Yếu tố chất lượng mối quan hệ (Relationship quality) cũng là yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của một mối quan hệ là hiệu suất (Performance), lợi ích quan hệ (Relational benefits) và sự hài lòng hài bên (Satisfaction of two parties).
Để làm rõ được các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng mối quan hệ (Relationship quality), mô hình xem xét theo bốn phương diện là đặc điểm các bên liên quan (Characteristics of relationship parties), thuộc tính mối quan hệ (Relationship attributes), đặt điểm cung cấp (Offer characteristics) và môi trường (The environment).1: Mô hình chất lượng mối quan hệ: một khung khái niệm Nguồn: Athanasopoulou (2009, tr.604) Trong mô hình chất lượng mối quan hệ (Relationship quality), yếu tố đặc điểm các bên liên quan (Characteristics of relationship parties) là yếu tố đặc điểm giữa người mua và người bán. Chúng bao gồm các biến như độ giống nhau; chuyên môn của người bán; hành vi đạo và định hướng; điểm mạnh của nhà sản xuất; thuộc tính của nhà cung cấp dịch; danh tiếng và quy mô của nhà cung cấp; mức độ chính thức hóa và tập trung hóa các công ty; đồng dư mục tiêu; định hướng thị trường người bán lại nhận thức được của nhà cung cấp và hành vi bán hàng thích ứng. Thuộc tính mối quan hệ (Relationship attributes) là các thuộc tính của mối quan hệ bao gồm độ dài hoặc thời lượng của mối quan hệ; các liên kết cấu trúc hoặc xã hội; sự phụ 11 thuộc và quyền lực; chi phí chấm dứt quan hệ; lợi ích của mối quan hệ; chi phí chuyển đổi mối quan hệ; xử lý xung đột hoặc hài hòa xung đột; hành vi ít cơ hội hơn; công bằng (phân phối và thủ tục); lòng tin; cam kết và đầu tư vào mối quan hệ. Đặt điểm cung cấp (Offer characteristics) là các đặc điểm của ưu đãi (sản phẩm hoặc dịch vụ) bao gồm hiệu suất của sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng và chất lượng dịch vụ.
Môi trường (The environment) là các yếu tố như kinh tế, chính trị, luật pháp, kỹ thuật,. Vai trò của môi trường là do sự phát triển và nuôi dưỡng các mối quan hệ, một hoạt động nội tại của mỗi doanh nghiệp và nó không bị ảnh hưởng bởi những thay đổi môi trường theo bất kỳ cách nào.3 Mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên Ang (2005) lập luận rằng mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên là sự kết nối cảm xúc giữa chính giảng viên và sinh viên. Cảm xúc này được thể hiện theo hai xu hướng tích cực hoặc tiêu cực.