Chương 1: Tổng quan về ý thức phái tính trong tiến trình thơ Việt Nam và sự nghiệp sáng tác của Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên Chương 2: Biểu hiện ý thức phái tính trong thơ Tuyết Nga và Phạm Thị Ngọc Liên Chương 3: Nghệ thuật thể hiện ý thức phái tính trong thơ Tuyết Nga và Phạm Thị Ngọc Liên 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ PHÁI TÍNH TRONG TIẾN TRÌNH THƠ VIỆT NAM VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA TUYẾT NGA, PHẠM THỊ NGỌC LIÊN 1. Giới thuyết về phái tính và nữ quyền 1. Ý thức phái tính Thuật ngữ phái tính được sử dụng nhiều và phổ biến trên nhiều lĩnh vực, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa chính xác, toàn diện và thống nhất về thuật ngữ này. Phái tính trước hết là khái niệm để chỉ sự khác biệt về thuộc tính của giới (giữa hai giới nam và nữ) trên nhiều phương diện sinh lý, tâm lý, hành động, chức năng xã hội… Nói đến phái tính trước hết là nói tới sự khác biệt mang tính chất sinh học về đặc trưng của giới tính nam và nữ.
Đồng thời sự khác biệt thiên về thuộc tính tự nhiên sẽ bước đầu in dấu trong tư duy, ý thức. Do đó, khái niệm phái tính dùng để chỉ ý thức hệ mà ở đó con người tự ý thức và đề cao được giới phái của mình, nhận thức được tính chất riêng biệt về giới của mình và bình đẳng giới. Cụ thể hơn, nếu chiết tự từ phái tính, ta sẽ nắm được một vài nét nghĩa cơ bản của danh từ mới này. Trước tiên là từ tính.
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, tính có thể được hiểu theo ba nghĩa: Một là những đặc trưng tâm lý ổn định riêng của mỗi người; hai là đặc điểm riêng của sự vật; ba là giới. Ở đây, ta nên hiểu đơn giản từ tính theo nghĩa thứ ba, là yếu tố thuộc về giới. Còn từ phái, cũng theo Đại từ điển tiếng Việt, ở góc độ danh từ, nó có thể được hiểu như một "tập hợp những người đứng ở phía này, phe này hay phía khác, phe khác: chia bè chia phái, các phái đấu tranh gay gắt với nhau" [41,1315]. Người ta hay nói đến các từ như phái nam, phái nữ, phái mạnh, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phái yếu,… Ở góc độ này, phái là sự tương tác với từ tính, tạo sinh tính thành hai phạm trù rất rõ ràng: tính nam, tính nữ.
Hiểu như vậy chúng ta sẽ thấy phái tính là một biến thể mở rộng của giới tính. Như vậy, ở nghĩa sơ khởi, phái tính chính là giới tính, nhưng khái niệm phái tính có nội hàm rộng hơn khái niệm giới tính. Giới tính bị quy chế bởi cách yếu tố sinh lý và xã hội, còn phải tính hàm chứa trong nó cả ý thức của chủ thể về chính giới tính của mình. Nếu giới là một khái niệm khách quan thì phái tính là một khái niệm chủ quan, thuộc về ý thức.
Ý thức là ý thức của con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, phản ánh bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội, là một hiện tượng xã hội. Ý thức phái tính là quá trình tự ý thức khi con người tự soi lại bản thể để nhận thức về giới của mình, từ đó xác lập quyền bình đẳng giới. Nó bao hàm chủ thể là cả hai giới nam và nữ.
Tuy nhiên, do lịch sử phát triển của xã hội và tư duy loài người, người ta thường sử dụng phổ biến thuật ngữ này trong nghiên cứu và tìm hiểu sự tự ý thức của giới nữ hay nói rộng hơn là trong nghiên cứu nữ quyền. Cũng cần phân biệt giữa phái tính và tính nữ. Tính nữ, cũng như tính nam là hai vế của giới tính, do giống sẵn có và hoàn cảnh xã hội quyết định tạo nên những nét riêng về tâm lý cũng như sinh lý ở cả hai giới. Tuy nhiên, tính nữ cũng không phải là một cái gì tất định và bất biến.
Nói như Simone de Beauvior: Người ta không phải sinh ra đàn bà, mà là trở thành đàn bà. Định thức này chỉ ra sự phân biệt giữa hữu thành và sinh thành, hiện thể và chuyển thể, giữa giống, tính và mở rộng hơn, phái tính. Nhìn chung, ở cấp độ này, phái tính có thể được định nghĩa là nữ tính kết hợp với sự tự thức sâu sắc về tính nữ, nhất là trong sự đối sánh với tính nam, một cách tự giác, mạnh mẽ và bình đẳng. Ý thức nữ quyền - một khái niệm liên quan 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của xã hội loài người, sự khác biệt giữa hai giới nam và nữ luôn luôn tồn tại rõ ràng.
Phụ nữ luôn là đại diện cho những điều yếu đuối và thấp kém. Từ thời cổ đại, nhà triết học Aristote đã đề cao người nam và công khai hạ thấp bản chất, xem thường giới nữ. Như vậy từ triết học cổ đại đã tồn tại sự bất bình đẳng giới. Theo Aristote, mọi sự khổ đau mà người phụ nữ phải gánh chịu trên cõi đời này là đều bởi cái thiếu sót tồn tại một cách tự nhiên như quy luật tất yếu trong chính bản chất vốn có của phụ nữ.
Do đó, trong cuộc sống, họ chỉ mang thân phận lệ thuộc và ít phẩm chất tốt đẹp hơn nam giới. Ở phương Đông, Khổng Tử và Nho giáo cũng luôn khẳng định bản chất thấp kém của người phụ nữ. Đạo Nho cho rằng "Nhất nam viết hữu/ Thập nữ viết vô", vị trí của người nữ trong xã hội gần như bị phủ định Thân phận của người phụ nữ theo quan niệm truyền thống phương Đông là bị lệ thuộc và phục tùng nam giới, trói buộc bởi tam tòng tứ đức. Người phụ nữ phong kiến Nho giáo không được đi học, tham gia khoa cử và không thể làm quan bởi trí tuệ của đàn bà bị coi là ngu muội và dốt nát.
Quan điểm này ăn sâu vào tiềm thức con người, ảnh hưởng sâu sắc đến vai trò, chức năng và vị trí của người phụ nữ trong xã hội. Chính vì vậy, khi nhắc đến sự tự ý thức về giới và bình đẳng giới, môt cách hữu nhiên, cũng có nghĩa là sự hướng đến, bênh vực cho vai trò của người phụ nữ và cân bằng cán cân nam - nữ. Trong nhiều nghiên cứu gần đây, khái niệm phái tính thường gắn liền với ý thức nữ quyền. Nhìn chung vấn đề ý thức phái tính được xác lập từ bình diện cá nhân sau đó được nâng lên thành ý thức nữ quyền.
Thuật ngữ nữ quyền (Féminisme) do Fourer (1722-1823) đưa ra lần đầu vào năm 1830. Đến năm 1837, khái niệm nữ quyền hay còn gọi là chủ nghĩa nữ quyền chính thức xuất hiện trong từ điển tiếng Pháp. Theo đó, khái niệm nữ quyền là một thuật ngữ chỉ học thuyết đấu tranh cho sự bình đẳng của phụ nữ so với nam giới. Theo quan điểm của các nhà xã hội học thì chủ nghĩa nữ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền là "suy nghĩ về sự bình đẳng của hai phái trong xã hội và sự phản đối có tổ chức đối với chế độ gia trưởng và phân biệt đối xử giống phái.
Chủ nghĩa nữ quyền không thừa nhận mẫu văn hoá chia khả năng của con người thành đặc điểm nam tính và nữ tính và tìm cách xoá bỏ bất lợi trong xã hội mà phái nữ thường gặp" [49]. Như vậy, lý thuyết nữ quyền là hệ tư tưởng giải phóng phụ nữ, là chủ nghĩa nam nữ bình quyền. Hệ thống các quan điểm này bao gồm sự mô tả, sự phân tích, sự giải thích nguyên nhân cũng như hậu quả của tình trạng áp bức phụ nữ và đưa ra những chiến lược với mục đích giải phóng phụ nữ. Quyền phụ nữ, gọi khái quát là quyền nữ giới hay nữ quyền, là các quyền lợi bình đẳng giới được khẳng định là dành cho phụ nữ và trẻ em gái trong nhiều xã hội trên thế giới.
Tại một số nơi, những quyền này được định chế hóa hoặc hỗ trợ bởi luật pháp, phong tục và tập quán địa phương, trong khi tại một số nơi khác, chúng bị phớt lờ hoặc hạn chế. Các quyền này khác biệt với các khái niệm rộng hơn vềquyền con người thông qua các nhận định về thành kiến truyền thống và lịch sử cố hữu chống lại việc thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em gái trong khi thiên vị nam giới và trẻ em trai. Các vấn đề thường liên quan tới khái niệm về quyền nữ giới gồm các quyền: toàn vẹn và tự chủ thân thể, bỏ phiếu (bầu cử), nắm giữ chức vụ công, làm việc, nhận mức lương bình đẳng hoặc công bằng, nắm giữ tài sản riêng, tiếp nhận giáo dục, phục vụ trong quân ngũ, ký kết hợp đồng pháp lý, và các quyền trong hôn nhân và làm phụ huynh. Trong giai đoạn đầu, nữ quyền chỉ là một làn sóng đấu tranh chính trị, sau đó mới trở thành một phương pháp luận nghiên cứu.
Từ năm 1848 đến năm 1918, làn sóng nữ quyền bắt đầu hình thành, khơi dậy ý thức nhân quyền trong giới nữ và đấu tranh giành lại những lợi ích căn bản cho phụ nữ. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn chủ nghĩa nữ quyền tự do trong lịch sử đấu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tranh nữ quyền, yêu cầu phụ nữ phải được cởi trói, được tự do tìm kiến sự hoàn thiện cá nhân. Cho đến đầu thế kỷ XX, các lý thuyết nữ quyền được phát triển rộng rãi và sôi động hơn, kết quả của nó là đại đa số các nước trên thế giới đều xác định vấn đề nam nữ bình quyền trong Hiến pháp. Từ cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 đến nay, lý thuyết phê bình nữ quyền thực sự phát triển mạnh mẽ, đòi bình đẳng nam nữ trên nhiều phương diện của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế đến văn học, nghệ thuật.
Đây là làn sóng nữ quyền thứ hai. Cùng với cao trào nữ quyền này là sự hình thành của thuyết nữ quyền xã hội chủ nghĩa, thuyết nữ quyền Marxist, thuyết nữ quyền tự do, thuyết nữ quyền cấp tiến. Đây là làn sóng thứ hai. Làn sóng nữ quyền thứ ba là giai đoạn mới trong lịch sử lý thuyết nữ quyền, bắt đầu từ khoảng những năm 80 của thế kỷ XX và phát triển mạnh chủ yếu vào năm 1990.