Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên bối cảnh kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, đặc biệt là mốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006. Tác giả dẫn chiếu tinh thần Nghị quyết 6 của Ban Chấp hành Trung ương khóa V về việc kết hợp cơ cấu kinh tế hợp lý với cơ chế quản lý thích hợp để tạo chuyển biến kinh tế - xã hội. Thực tiễn thập niên 1980 cho thấy các chính sách ngoại thương còn mang tính chắp vá, bị động, chú trọng đổi mới cơ chế điều hành nhưng chưa định hình được cơ cấu xuất nhập khẩu dài hạn. Mô hình xuất khẩu khi đó chủ yếu dựa trên nguyên tắc "năng nhặt chặt bị", dẫn đến tình trạng bị động trong khâu chuẩn bị thị trường tiêu thụ, sản phẩm xuất khẩu phân tán và thiếu tính định hướng.
Trước yêu cầu đổi mới, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam trong một thời gian dài vẫn duy trì tỷ trọng lớn các sản phẩm thô, hàng sơ chế và nông lâm thủy sản truyền thống. Việc khai thác các mặt hàng thâm dụng tài nguyên và lao động giản đơn không còn đảm bảo tính bền vững khi khoa học - công nghệ toàn cầu phát triển nhanh chóng và chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng rút ngắn. Đề tài đặt ra vấn đề cấp bách: làm thế nào để chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu có cơ sở khoa học, có tính khả thi và thích ứng nhanh với tiến trình tự do hóa thương mại.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận cơ bản về xuất khẩu, cơ cấu xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu trong thương mại quốc tế.
- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu và sự dịch chuyển cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2006, đồng thời cập nhật biến động sau khi gia nhập WTO (giai đoạn 2007 - 2008).
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân tác động đến quá trình dịch chuyển cơ cấu xuất khẩu.
- Đề xuất hệ thống giải pháp ở cấp độ quản lý nhà nước và cấp độ doanh nghiệp nhằm định hướng chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu bền vững trong thời gian tới (hướng đến mốc năm 2020).
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động xuất khẩu và cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về thời gian tập trung vào giai đoạn 2001 - 2006, có bổ sung số liệu phân tích đến năm 2007 - 2008 và định hướng dự báo đến năm 2020. Phạm vi không gian là nền kinh tế Việt Nam trong mối quan hệ thương mại với các thị trường đối tác quốc tế chủ yếu như Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Đại Dương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu thông qua hệ thống khái niệm, cơ sở pháp lý và các lý thuyết thương mại quốc tế kinh điển:
Khung khái niệm và căn cứ pháp lý:
- Khái niệm xuất khẩu được đối chiếu theo Điều 28, Mục 1, Chương 2 của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005: xuất khẩu hàng hóa là việc đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng.
- Cơ cấu hàng xuất khẩu được hiểu là tổng thể các nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu trong toàn bộ kim ngạch xuất khẩu với vị trí, tỷ trọng tương ứng và mối liên hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành, phản ánh trình độ phân công lao động quốc tế của nền kinh tế.
- Khóa luận viện dẫn 4 cách phân loại cơ cấu hàng xuất khẩu:
- Theo Danh mục Phân loại Thương mại Quốc tế Tiêu chuẩn (SITC Revision 3, 1986 của Liên Hợp Quốc): chia thành 3 nhóm lớn gồm hàng thô/mới sơ chế (5 nhóm nhỏ), hàng chế biến/tinh chế (4 nhóm nhỏ), và hàng hóa khác.
- Theo Niên giám Thống kê Việt Nam: chia theo cơ cấu ngành kinh tế gồm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản; hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; hàng nông lâm thủy sản.
- Theo hàm lượng chế biến (Chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010): gồm khoáng sản; nông lâm thủy sản; hàng chế biến chính; hàng chế biến cao.
- Theo tầm quan trọng của mặt hàng: chia thành nhóm hàng chủ lực, nhóm hàng quan trọng và nhóm hàng thứ yếu.
Các khung lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết Heckscher - Ohlin (H-O): Giải thích lợi thế tương đối xuất phát từ mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất (đất đai, lao động, tư bản). Quốc gia có tỷ lệ lao động trên vốn ($L/K$) cao sẽ có xu hướng xuất khẩu các mặt hàng thâm dụng lao động và nhập khẩu các mặt hàng thâm dụng vốn. Khóa luận vận dụng lý thuyết này để chỉ ra cơ cấu xuất khẩu trước đây của Việt Nam phù hợp với lợi thế lao động dồi dào, nhưng lợi thế này có xu hướng suy giảm dần theo thời gian.
- Lý thuyết Vòng đời sản phẩm quốc tế của Raymond Vernon (1966): Mô hình hóa sự dịch chuyển địa điểm sản xuất và thương mại quốc tế qua 5 pha: Pha 0 (Đổi mới trong nước), Pha 1 (Đổi mới ngoài nước), Pha 2 (Tăng trưởng và chín muồi), Pha 3 (Đổi mới toàn cầu), và Pha 4 (Đổi mới ngược chiều). Việt Nam tận dụng công nghệ của các nước đi trước ở giai đoạn chuẩn hóa để tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu.
- Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter (1990): Mô hình kim cương Porter phân tích 4 nhóm yếu tố cốt lõi (điều kiện các yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu nội địa; các ngành công nghiệp bổ trợ và liên quan; chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh ngành) cùng 2 biến số tác động là Chính phủ và Cơ hội. Porter phân định rõ giữa đầu vào cơ bản (tài nguyên, khí hậu, vị trí địa lý, lao động giản đơn) và đầu vào cao cấp (lao động kỹ thuật cao, hạ tầng nghiên cứu, bí quyết công nghệ). Khóa luận áp dụng mô hình để lập luận rằng Việt Nam cần chuyển dần từ lợi thế đầu vào cơ bản sang đầu vào cao cấp.
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích định tính kết hợp phân tích định lượng, phương pháp so sánh đối chiếu số liệu theo chuỗi thời gian và phương pháp tổng hợp - khái quát hóa. Nguồn dữ liệu sử dụng là số liệu thứ cấp chính thức trích xuất từ các báo cáo thường niên của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 - 2010.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Một số vấn đề về xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về vai trò của hoạt động xuất khẩu và tính tất yếu của việc chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Tác giả phân tích 5 vai trò kinh tế then chốt của xuất khẩu:
- Tạo nguồn thu ngoại tệ tích cực và chủ động cho ngân sách, hạn chế nợ nước ngoài và không bị ràng buộc bởi các yêu sách tài chính.
- Tạo nguồn vốn để nhập khẩu máy móc, thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước thông qua việc mở rộng thị trường và kích thích các ngành sản xuất công nghiệp phụ trợ, nguyên liệu đầu vào.
- Giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho lực lượng lao động trẻ dồi dào.
- Làm cơ sở thực hiện phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại.
Tác giả luận giải tính tất yếu của chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu xuất phát từ: yêu cầu nội tại của công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu theo Nghị quyết Đại hội IX; xu hướng thương mại toàn cầu (tăng trưởng hàng hóa dịch vụ vô hình, giảm tỷ trọng lương thực thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến chế tạo); nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; và sức ép cạnh tranh quốc tế khi gia nhập WTO.
Đồng thời, chương I phân loại các nhân tố ảnh hưởng thành hai nhóm:
- Nhóm nhân tố khách quan: Điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý hàng hải, tài nguyên); điều kiện kinh tế - xã hội (quy mô dân số, mức sống, lợi thế đi sau về công nghệ); chính sách thương mại và rào cản từ các thị trường nhập khẩu; tác động của tự do hóa thương mại toàn cầu.
- Nhóm nhân tố chủ quan: Nhận thức và đường lối phát triển xuất khẩu của Nhà nước (văn kiện Đại hội VIII về tăng tỷ trọng chế biến sâu, giảm xuất khẩu thô); chất lượng quy hoạch và kế hoạch ngành hàng; năng lực sản xuất nội địa; năng lực xúc tiến thương mại ở tầm vi mô và vĩ mô; công tác tổ chức, điều hành hạn ngạch và thủ tục xuất khẩu của các cơ quan quản lý.
Chương II: Tình hình xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua
Chương II phản ánh thực trạng xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2001 - 2006 và những năm đầu sau khi gia nhập WTO (2007 - 2008) thông qua các số liệu thống kê cụ thể.
Về tăng trưởng quy mô kim ngạch:
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng từ 15.027 triệu USD năm 2001 lên 39.605 triệu USD năm 2006 (tăng 2,64 lần sau 5 năm), vượt chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược xuất khẩu 2001 - 2010. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trên GDP tăng từ 46,2% (2001) lên 69% (2006). Giai đoạn 2007 - 2008, kim ngạch tiếp tục tăng mạnh, năm 2007 đạt 48.561 triệu USD (tăng 21,5%) và năm 2008 ước đạt xấp xỉ 63 tỷ USD (tăng 29,5%).
| Năm |
Kim ngạch XK (Triệu USD) |
Tốc độ tăng trưởng (%) |
Tỷ trọng XK/GDP (%) |
| 2001 |
15.027 |
3,8 |
46,2 |
| 2002 |
16.706 |
11,2 |
47,6 |
| 2003 |
20.149 |
20,6 |
51,0 |
| 2004 |
26.503 |
31,5 |
58,3 |
| 2005 |
32.447 |
22,4 |
61,3 |
| 2006 |
39.605 |
22,1 |
69,0 |
Về cơ cấu thành phần kinh tế:
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữ vai trò chủ lực, tỷ trọng tăng từ 47,1% (năm 2000) lên 58% (năm 2006) và đạt 55,4% vào năm 2008. Khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước giảm tỷ trọng tương ứng từ 52,9% (năm 2000) xuống còn 42% (năm 2006) và đạt 44,6% năm 2008.
Về cơ cấu thị trường xuất khẩu:
Thị trường xuất khẩu được mở rộng tới 220 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thị trường Châu Á duy trì vị trí dẫn đầu nhưng tỷ trọng giảm từ 57,3% (2001) xuống 44,3% (2005) và đạt 44,5% (2008). Khu vực thị trường Châu Mỹ tăng trưởng mạnh mẽ nhất, tỷ trọng tăng từ 8,9% (2004) lên 23,2% (2006) và 24,3% (2007), trong đó Hoa Kỳ chiếm 86,8% tổng kim ngạch xuất sang Châu Mỹ. Thị trường Châu Âu chiếm trên 19 - 20% tổng kim ngạch (riêng khối EU chiếm 89,2% thị phần Châu Âu). Thị trường Châu Phi tăng tỷ trọng từ 1,2% (2001) lên 4,8% (2006).
Về chuyển dịch cơ cấu nhóm ngành hàng:
Cơ cấu hàng xuất khẩu giai đoạn 2001 - 2006 và 2007 - 2008 được phân theo ba nhóm chính:
| Nhóm ngành hàng |
Tỷ trọng 2001 (%) |
Tỷ trọng 2006 (%) |
Tỷ trọng 2007 (%) |
Tỷ trọng 2008 (%) |
| Nông, lâm, thủy sản |
24,3 |
20,5 |
24,9 |
25,8 |
| Nhiên liệu, khoáng sản |
21,6 |
23,4 |
19,5 |
18,9 |
| Công nghiệp nhẹ và TCMN |
33,9 |
39,0 |
36,1 |
38,5 |
| Nhóm hàng khác |
20,2 |
17,1 |
19,5 |
16,8 |
Phân tích chi tiết từng nhóm hàng của chương II làm rõ các đặc điểm:
- Nhóm nhiên liệu, khoáng sản: Dầu thô chiếm 90% kim ngạch của nhóm. Khối lượng xuất khẩu dầu thô đạt đỉnh 19,5 triệu tấn vào năm 2004 nhưng sau đó giảm xuống 18 triệu tấn (2005) và 16,6 triệu tấn (2006) do mỏ Bạch Hổ suy giảm sản lượng; kim ngạch tăng chủ yếu nhờ giá thế giới tăng. Khai thác do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) quản lý, liên doanh với các đối tác nước ngoài. Than đá có tốc độ tăng trưởng kim ngạch bình quân 49,35%/năm, đạt gần 1 tỷ USD năm 2006, do Tập đoàn Than và Khoáng sản (Vinacomin) độc quyền khai thác, chủ yếu xuất thô sang Trung Quốc (50%) và Nhật Bản.
- Nhóm nông lâm thủy sản: Thủy sản, gạo và cà phê chiếm hơn 70% kim ngạch toàn nhóm. Gạo có biến động mạnh; năm 2005 tăng trưởng trên 48%; năm 2006 đạt gần 4,77 triệu tấn, trị giá 1,414 tỷ USD nhờ giá tăng đạt 296 USD/tấn. Tuy nhiên, năm 2003 gạo phẩm cấp trung bình và thấp chiếm 55,6%, giá bán thấp hơn gạo Thái Lan từ 4 - 12 USD/tấn. Cao su tăng trưởng cao cả về lượng (từ 308 nghìn tấn năm 2001 lên 721 nghìn tấn năm 2006) và giá (từ 539 USD/tấn lên 1.605 USD/tấn), đưa kim ngạch tăng gần 7 lần, đạt 1,3 tỷ USD năm 2006. Cà phê xuất khẩu tới 95% sản lượng thu hoạch nhưng chịu biến động giá thế giới.
- Nhóm công nghiệp và thủ công mỹ nghệ: Tỷ trọng tăng từ 33,9% (2001) lên 39,0% (2006). Xuất hiện các mặt hàng đạt quy mô lớn như dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ và linh kiện điện tử - máy tính (năm 2008 linh kiện điện tử và máy tính đạt trên 2,7 tỷ USD). Năm 2001 cả nước chỉ có 4 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, đến năm 2006 đã tăng lên 9 mặt hàng (dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, điện tử, gỗ, gạo, cao su, cà phê) và năm 2008 có 8 mặt hàng đạt trên 2 tỷ USD.
Chương III: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam trong thời gian tới
Trên cơ sở đánh giá bối cảnh kinh tế thế giới đến năm 2020 và định hướng phát triển từng nhóm hàng (giảm tỷ trọng khoáng sản thô, nâng cao hàm lượng chế biến cho nông sản, đẩy mạnh công nghiệp chế tạo), tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:
Đề xuất đối với Nhà nước:
- Đổi mới cơ chế hoạt động xuất khẩu: Hoàn thiện hành lang pháp lý, minh bạch hóa hạn ngạch, cắt giảm thủ tục hành chính hải quan theo chuẩn mực WTO.
- Phát triển khoa học công nghệ: Ban hành chính sách ưu đãi tài chính và thuế cho các dự án đổi mới dây chuyền công nghệ xuất khẩu.
- Phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo lao động kỹ thuật cao, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia đàm phán thương mại và quản trị kinh doanh quốc tế.
- Hỗ trợ doanh nghiệp và thu hút vốn đầu tư: Khuyến khích dự án FDI sản xuất sản phẩm xuất khẩu có giá trị gia tăng cao; tập trung nguồn lực hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME); đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư.
Giải pháp đối với doanh nghiệp:
- Thay đổi tư duy và chiến lược kinh doanh: Chuyển từ phương thức cạnh tranh bằng giá rẻ và bán những gì sẵn có sang sản xuất hàng hóa đáp ứng thị hiếu của thị trường đối tác.
- Đầu tư R&D và công nghệ: Nâng cao năng lực nghiên cứu phát triển, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật để tạo ra các sản phẩm độc đáo theo khung lý thuyết Porter.
- Quản lý chất lượng sản phẩm: Chuẩn hóa mẫu mã, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế và quy định nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại: Chủ động khảo sát thị trường nước ngoài, tham gia hội chợ thương mại quốc tế, xây dựng thương hiệu sản phẩm và tìm kiếm kênh phân phối trực tiếp nhằm hạn chế xuất khẩu qua trung gian.
Kết quả và đóng góp
Kết quả phân tích định lượng chủ yếu:
- Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh tăng trưởng ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2001 - 2006: kim ngạch XK tăng 2,64 lần (từ 15 tỷ USD lên 39,6 tỷ USD); vượt mức dự báo chiến lược 5 năm 2001 - 2005 (thực hiện đạt trung bình 17,5%/năm so với mục tiêu 16%); tỷ lệ XK/GDP đạt 69% vào năm 2006.
- Làm rõ cơ cấu nhóm ngành: Nhóm công nghiệp và thủ công mỹ nghệ chiếm tỷ trọng cao nhất (39% năm 2006, 38,5% năm 2008); nhóm nông lâm thủy sản giữ mức trên 20% (đạt 25,8% năm 2008); nhóm nhiên liệu khoáng sản giảm dần tỷ trọng về mức 18,9% năm 2008.
- Làm rõ tính dễ tổn thương của cơ cấu hàng hóa: 7 mặt hàng lớn nhất năm 2005 chiếm tới 69% tổng kim ngạch xuất khẩu; dầu thô xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô trong khi trong nước phải dùng ngoại tệ nhập khẩu sản phẩm xăng dầu tinh chế; nông sản (gạo, cà phê, cao su) phụ thuộc vào sự trồi sụt của giá cả thế giới.
- Đo lường vị thế quốc tế: Chỉ số kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp: năm 2001 đạt 200 USD/người, năm 2005 đạt 388 USD/người, năm 2007 đạt 473 USD/người. Mức này thấp hơn nhiều so với Philippines (546 USD/người), Malaysia (5.890 USD/người) và Singapore (60.600 USD/người), xếp thứ 5 trong khối ASEAN, thứ 11 tại Châu Á và thứ 84 trên thế giới.
Đóng góp của tác giả:
Tác giả đã kết nối lý thuyết thương mại quốc tế (đặc biệt là mô hình kim cương của Michael Porter và vòng đời sản phẩm của Vernon) với thực tiễn phân loại ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam. Khóa luận chỉ ra rằng mô hình tăng trưởng xuất khẩu dựa trên đầu vào cơ bản (lao động rẻ, khoáng sản tự nhiên) đang chạm ngưỡng giới hạn, từ đó cung cấp luận cứ ủng hộ việc chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu sang các sản phẩm thâm dụng công nghệ và vốn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận:
- Số liệu khảo sát của năm 2008 chủ yếu là số liệu ước tính và số liệu tổng hợp trong 6 tháng đầu năm do thời điểm hoàn thành đề tài (đầu năm 2009) chưa có Niên giám thống kê chính thức đầy đủ cho cả năm 2008.
- Đề tài tập trung nhiều vào mặt hàng dầu thô, than đá, gạo, cao su, cà phê; các phân tích về nhóm sản phẩm công nghiệp chế tạo có hàm lượng công nghệ cao (như linh kiện điện tử, cơ khí chính xác) chưa được đào sâu về chuỗi giá trị và tỷ lệ nội địa hóa.
- Hoạt động xuất khẩu dịch vụ chưa được phân tích tương xứng với xuất khẩu hàng hóa hữu hình.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục đánh giá tác động sâu rộng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đến kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu các năm tiếp theo.
- Khảo sát chuyên sâu chuỗi cung ứng và mức độ gia tăng giá trị nội địa của các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nhằm đề xuất lộ trình nâng tỷ lệ nội địa hóa cho hàng xuất khẩu Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh doanh quốc tế và Thương mại quốc tế. Đề tài cung cấp hệ thống số liệu kinh tế vĩ mô về ngoại thương giai đoạn 2001 - 2008 cùng phương pháp luận vận dụng các mô hình Heckscher - Ohlin, Vernon và Michael Porter vào phân tích cơ cấu ngành hàng xuất khẩu của một quốc gia đang phát triển.
Bên cạnh đó, các số liệu thống kê chi tiết theo ngành hàng (than đá, dầu thô, cao su, lúa gạo, dệt may) và các bảng tổng hợp cơ cấu theo thị trường, thành phần kinh tế là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu lịch sử kinh tế ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn tiền và hậu gia nhập WTO.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 - 2006 được phân loại theo tiêu chí nào trong khóa luận?
Khóa luận lựa chọn phân loại theo tiêu chí nhóm ngành hàng dựa theo báo cáo của Bộ Công Thương, bao gồm 3 nhóm chính: Nhóm hàng khoáng sản và nhiên liệu; Nhóm hàng nông lâm thủy sản; Nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ.
2. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2007 đạt bao nhiêu và đứng thứ mấy trong khu vực?
Theo số liệu trong khóa luận, kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của Việt Nam năm 2001 là 200 USD/người, năm 2005 là 388 USD/người và năm 2007 là 473 USD/người. Chỉ số này xếp thứ 5 trong khối ASEAN, thứ 11 tại Châu Á và thứ 84 trên thế giới, thấp hơn mức 546 USD của Philippines, 5.890 USD của Malaysia và 60.600 USD của Singapore.
3. Tại sao sản lượng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam giảm trong giai đoạn 2005 - 2006 nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng?
Sản lượng xuất khẩu dầu thô giảm từ mức đỉnh 19,5 triệu tấn (năm 2004) xuống 18,0 triệu tấn (năm 2005) và 16,6 triệu tấn (năm 2006) do mỏ Bạch Hổ suy giảm sản lượng khai thác. Tuy nhiên, nhờ giá dầu thô trên thị trường thế giới tăng mạnh trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng từ 5,671 tỷ USD (năm 2004) lên 7,600 tỷ USD (năm 2005) và 8,323 tỷ USD (năm 2006).
4. Có bao nhiêu mặt hàng của Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD vào năm 2006?
Năm 2006 Việt Nam có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (tăng thêm 5 mặt hàng so với năm 2001), bao gồm: dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, điện tử, sản phẩm gỗ, gạo, cao su và cà phê.
5. Vai trò của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong cơ cấu xuất khẩu 2001 - 2006 chuyển biến như thế nào?
Khu vực FDI duy trì tỷ trọng lớn và tăng dần từ 47,1% (năm 2000) lên 58,0% (năm 2006), đóng góp 34,87 tỷ USD vào năm 2008 (chiếm 55,4%). Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI thường cao gấp 1,5 - 2 lần khu vực trong nước, nhưng đến năm 2006, tốc độ tăng của doanh nghiệp trong nước đã bắt kịp, đạt 20,5% so với 23,2% của khu vực FDI.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trịnh Ngọc Hân đã khái quát toàn diện bức tranh xuất khẩu và quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2006, cập nhật đến năm 2008. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết thương mại quốc tế với số liệu thống kê ngành hàng, nghiên cứu đã chứng minh tính cấp thiết của việc giảm dần tỷ trọng hàng thô sơ chế và chuyển dịch mạnh mẽ sang các sản phẩm công nghiệp chế tạo có hàm lượng công nghệ cao. Hệ thống giải pháp đề xuất đối với Nhà nước và doanh nghiệp mang tính đồng bộ, cung cấp cơ sở tham khảo cho việc định hình chính sách ngoại thương của Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2020.