CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN QUA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về xuất khẩu nông sản 1. Khái niệm về xuất khẩu nông sản Theo Smith (1976), "khi tập trung chuyên môn hóa sản xuất những mặt hàng mà bản thân quốc gia có lợi thế tuyệt đối thì có thể sản xuất ra một lượng lớn hàng hóa, có thể dư thừa với nhu cầu sử dụng trong nước nên được mang ra trao đổi với bên ngoài". Còn theo Ricardo, nếu quốc một quốc gia sản xuất và đem trao đổi mặt hàng mình có lợi thế so sánh với quốc gia khác thì cả hai quốc gia đều có lợi.
Như vậy, khi phân công lao động quốc tế phát triển đến một mức độ nhất định, các hoạt động thương mại giữa các quốc gia sẽ diễn ra. Ban đầu, thương mại chỉ đơn thuần là việc trao đổi hàng hóa trực tiếp, nhưng theo thời gian, các hình thức thanh toán trung gian như tiền mặt và séc đã xuất hiện, làm thay đổi cách thức giao dịch. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và công nghệ, thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn với các hình thức mới như thương mại điện tử, cho thuê tài chính hay mua bán nợ thương mại. Những mối liên kết giữa các quốc gia trở nên chặt chẽ hơn, đồng thời mức độ cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt.
Dựa trên nền tảng của hoạt động thương mại hàng hóa, xuất khẩu nông sản có thể được hiểu là quá trình trao đổi sản phẩm nông nghiệp giữa một quốc gia với các quốc gia khác trên thế giới thông qua các giao dịch thương mại. Hoạt động này nhằm khai thác những lợi thế vốn có của quốc gia trong bối cảnh phân công lao động toàn cầu, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh và mang lại giá trị kinh tế cho đất nước. Còn theo Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam định nghĩa: "Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật" (Quốc Hội, 2005). Như vậy, xuất khẩu nông sản có thể được hiểu là quá trình đưa các sản phẩm nông nghiệp – vốn là mặt hàng có lợi thế của Việt Nam - ra khỏi lãnh thổ Việt Nam 6 hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt nam theo quy định của pháp luật, với mục tiêu tiêu thụ tại các quốc gia khác nhằm mang lại giá trị kinh tế.
Đặc điểm của nông sản Thứ nhất, nông sản có tính thời vụ. Hầu hết các loại nông sản có chu kỳ sản xuất theo mùa vụ, không thể sản xuất quanh năm, vì vậy nguồn cung thường không ổn định, có thể dẫn đến tình trạng mất cân đối cung-cầu, dư thừa hoặc khan hiếm tùy thời điểm. Thứ hai, nông sản là mặt hàng yêu cầu bảo quản khắt khe. Nhiều loại nông sản có tính chất tươi sống như rau xanh, trái cây, thịt, sữa.có hạn sử dụng ngắn, dễ bị hỏng, giảm chất lượng nếu không được bảo quản đúng cách.
Một số loại cần bảo quản trong môi trường lạnh, một số khác cần sấy khô, đóng gói hút chân không hoặc chế biến để kéo dài thời gian sử dụng (gạo, đậu, hạt điều). Việc vận chuyển nông sản cũng đòi hỏi điều kiện bảo quản phù hợp để tránh mất chất lượng, nhất là với các loại xuất khẩu như thanh long, xoài, nhãn. Thứ ba, nông sản có đặc tính không đồng nhất. Nông sản là sản phẩm từ quá trình nuôi trồng tự nhiên, nên khó có sự đồng nhất tuyệt đối.
Tùy vào loại cây trồng, vật nuôi và điều kiện sản xuất, mỗi loại nông sản có thể có kích thước và trọng lượng khác nhau. Ví dụ trái cây như dưa hấu có thể nặng từ 2kg đến 10kg tủy giống, gạo có nhiều loại như gạo dài, gạo tròn, gạo nếp, gạo thơm,. Việc phân loại nông sản theo kích cỡ và chất lượng là vô cùng quan trọng trong khâu thu hoạch, chế biến và tiêu thụ để đảm bảo có thể tiêu thụ sản phẩm với đúng giá trị vốn có. Thứ tư, nông sản là sản phẩm phụ thuộc vào điều kiện địa lý.
Nông sản là một sản phẩm chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường xung quanh như khí hậu, đất đai, lượng mưa, nhiệt độ, ánh sáng, nguồn nước, những yếu tố này không thể kiểm soát tuyệt đối, dẫn đến sự biến động về năng suất theo từng thời điểm. Đồng thời phương pháp canh tác và môi trường xung quanh cũng có thể gây ra sâu bệnh, dịch bệnh, kết hợp với điều kiện thời tiết khắc nghiệt như bão, lũ lụt, sương muối có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng của nông sản. Đặc biệt, đối với nông sản xuất khẩu, chỉ cần sai lệch nhỏ trong chất lượng cũng có thể khiến lô hàng bị trả về hoặc bị ép giá. Vai trò của xuất khẩu nông sản Xuất khẩu nông sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia.
Thứ nhất, xuất khẩu nông sản góp phần vào phát triển xuất khẩu của quốc gia, từ đó tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, giảm thâm hụt cán cân thương mại, tích lũy phát triển sản xuất như việc đầu tư nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại, vật tư nông nghiệp tiên tiến phục vụ sản xuất, giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc đẩy mạnh xuất khẩu nông sản không chỉ giúp gia tăng tổng kim ngạch xuất khẩu mà còn góp phần chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng bền vững và có giá trị gia tăng cao hơn. Khi nông sản Việt Nam có thể tiếp cận và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của các thị trường như EU, Mỹ, Nhật Bản…, đồng nghĩa với việc chất lượng sản phẩm và năng lực xuất khẩu được cải thiện rõ rệt. Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP và giữ vững ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô.
Thứ ha, nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều lao động nên hoạt động xuất khẩu nông sản sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người lao động, góp phần ổn định xã hội. Xuất khẩu nông sản giúp các doanh nghiệp nông nghiệp mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp và đất nước. Thứ ba, xuất khẩu nông sản sẽ giúp phát huy được lợi thế của đất nước, do mỗi quốc gia có những điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhữn và nguồn nhân lực khác nhau. Việc đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sẽ giúp tận dụng được nguồn nhân lực sẵn có của quốc gia cũng như doanh nghiệp, sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh của đất nước, tiết kiệm chi phí xã hội.
Thứ tư, xuất khẩu nông sản góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp và sản phẩm. Xuất khẩu nông sản sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng, giá cả cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của thị trường nhập khẩu. Phát triển xuất khẩu nông sản sẽ đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng tích cực, gia tăng các sản phẩm chế biến chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu nông sản trên thị trường thế giới. Các hình thức xuất khẩu nông sản Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mà doanh nghiệp hoặc cá nhân trong nước chủ động tiếp cận thị trường nước ngoài, trực tiếp đàm phán và ký kết hợp đồng với đối tác quốc tế mà không thông qua bên trung gian.
Các thỏa thuận được thiết lập thông qua gặp mặt trực tiếp, trao đổi thư từ, điện thoại, hoặc các phương tiện giao tiếp hiện đại như email, hội nghị trực tuyến. Ưu điểm của hình thức này là sự chủ động trong việc kiểm soát chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, có thể thiết lập mối quan hệ lâu dài giữa các bên, đồng thời tối đa hóa lợi nhuận do không phải chia sẻ chi phí cho bên trung gian. Tuy nhiên, hình thức này yêu cầu doanh nghiệp có kiến thức chuyên sâu về thị trường quốc tế, ngoại ngữ, pháp lý và logistic, và chi phí tiếp cận thị trường và tìm kiếm đối tác có thể cao. Xuất khẩu qua trung gian là hình thức doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của bên thứ ba – có thể là đại lý, nhà môi giới hoặc công ty xuất nhập khẩu – để thực hiện giao dịch xuất khẩu.
Người trung gian thay mặt doanh nghiệp đàm phán, ký kết hợp đồng và thực hiện các thủ tục liên quan. Hình thức này phù hợp với doanh nghiệp nhỏ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong thương mại quốc tế, muốn tận dụng mạng lưới và chuyên môn của bên trung gian. Tuy nhiên, lợi nhuận của hình thức này sẽ thấp hơn do phải chia sẻ với các bên trung gian. Xuất khẩu tại chỗ là hình thức người nước ngoài mua hàng hóa hoặc dịch vụ ngay tại Việt Nam.
Mặc dù hàng hóa không rời khỏi lãnh thổ quốc gia, nhưng vẫn được coi là xuất khẩu vì đối tượng tiêu dùng là người nước ngoài. Ưu điểm của hình thức này là tiết kiệm chi phí vận chuyển và logistics quốc tế, dễ kiểm soát chất lượng sản phẩm, bảo đảm trải nghiệm khách hàng, tủy nhiêu quy mô và doanh thu thường không lớn. Hình thức tái xuất khẩu là quá trình doanh nghiệp mua hàng hóa từ một quốc gia và xuất lại sang một quốc gia khác mà không qua chế biến tại nước trung gian. Đây là hình thức thường thấy tại các trung tâm logistics lớn hoặc các quốc gia có chính sách thương mại mở.
Mục đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua hàng hóa ở nước này rồi bán hàng hóa với giá cao hơn ở nước khác và thu về số vốn lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu (Nguyễn Tuấn Đạt và cộng sự, 2022). Mô hình này thích hợp với các công ty thương mại có vốn lớn và mạng lưới cung ứng mạnh, tuy 9 nhiên sẽ bị phụ thuộc nhiều vào chính sách hải quan, thuế, hiệp định giữa các nước và rủi ro hàng tồn kho nếu không tìm được thị trường tiêu thụ. Gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó người đặt hàng gia công ở nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia công trong nước thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm theo nhu cầu của khách, toàn bộ sản phẩm làm ra sẽ được chuyển về bên thuê gia công (Nguyễn Tuấn Đạt và cộng sự, 2022).