Khóa luận tốt nghiệp kinh doanh quốc tế xuất khẩu nông sản qua kênh thương mại điện tử kinh nghiệm của trung quốc và bài học cho việt nam

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp kinh doanh quốc tế xuất khẩu nông sản qua kênh thương mại điện tử kinh nghiệm của trung, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Kinh doanh Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

101
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái quát về xuất khẩu nông sản qua thương mại điện tử

Xuất khẩu nông sản qua thương mại điện tử (TMĐT) đã trở thành một kênh bán hàng quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số. Thương mại điện tử xuyên biên giới cho phép các doanh nghiệp nông sản tiếp cận trực tiếp với khách hàng quốc tế mà không cần thông qua các trung gian truyền thống. Các hình thức xuất khẩu nông sản hiện đại bao gồm: B2B, B2C, S2B2C và các mô hình đa kênh. Đặc điểm của nông sản như dễ hư hỏng, yêu cầu vận chuyển nhanh chóng đòi hỏi hệ thống logistics hiệu quả. Vai trò của xuất khẩu nông sản không chỉ tạo doanh thu mà còn góp phần phát triển kinh tế nông thôn, tăng cường liên kết giữa nông dân với thị trường quốc tế, và thúc đẩy giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp.

1.1. Khái niệm và đặc điểm nông sản trong thương mại điện tử

Nông sản là sản phẩm từ hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp, có khả năng tích trữ thấp và yêu cầu điều kiện bảo quản đặc biệt. Các đặc điểm của nông sản bao gồm: dễ hư hỏng, đa dạng theo mùa vụ, giá cả dao động, cần chứng chỉ vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong thương mại điện tử, những đặc điểm này tạo ra thách thức về logistics, bảo quản và tuân thủ quy chuẩn chất lượng quốc tế.

1.2. Các hình thức và mô hình xuất khẩu nông sản

Các hình thức xuất khẩu nông sản qua TMĐT bao gồm: B2B (doanh nghiệp đến doanh nghiệp), B2C (doanh nghiệp đến khách hàng), S2B2C (nhà cung cấp đến doanh nghiệp đến khách hàng). Mô hình bán hàng đa kênh kết hợp các nền tảng như Alibaba, Amazon, sàn thương mại điện tử trong nước để tối đa hóa tiếp cận thị trường và tăng lượng khách hàng tiềm năng.

II. Kinh nghiệm phát triển xuất khẩu nông sản của Trung Quốc

Trung Quốc đã trở thành một trong những nước dẫn đầu trong xuất khẩu nông sản qua TMĐT với quy mô và tốc độ phát triển ấn tượng. Thị trường thương mại điện tử xuyên biên giới của Trung Quốc được hỗ trợ bởi môi trường chính sách ổn định, hệ thống logistics toàn cầu, và hệ thống thanh toán điện tử tiên tiến. Mô hình thương mại điện tử nông thôn tại Trung Quốc đã kết nối hàng triệu nông dân với các nền tảng TMĐT quốc tế. Chiến lược tiếp thị và quảng bá thương hiệu nông sản của Trung Quốc bao gồm livestreaming, hợp tác với các KOL, và nâng cao chất lượng sản phẩm. Sự phát triển của hệ sinh thái thương mại điện tử với sự tham gia của nhiều nền tảng, dịch vụ logistic, công ty thanh toán đã tạo nên một ekosystem hoàn chỉnh hỗ trợ hoạt động xuất khẩu.

2.1. Quy mô và mặt hàng xuất khẩu nông sản của Trung Quốc

Xuất khẩu nông sản qua TMĐT của Trung Quốc đạt giá trị hàng tỷ USD hàng năm. Các mặt hàng chính bao gồm: rau quả, thủy sản, sản phẩm chế biến, trà, mật ong, nấm. Trung Quốc tập trung vào nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng sản phẩm thông qua quy trình sản xuất chuẩn, chứng chỉ chất lượng, và tạo dựng thương hiệu riêng trên các nền tảng TMĐT xuyên biên giới.

2.2. Vai trò của livestreaming và marketing trong TMĐT nông sản

Livestreaming đã trở thành công cụ marketing mạnh mẽ trong thương mại điện tử nông sản Trung Quốc. Các KOL (influencer) nông sản trực tiếp giới thiệu sản phẩm, tạo sự tin tưởng với khách hàng, và thúc đẩy bán hàng. Chiến lược quảng bá thương hiệu kết hợp livestreaming với nội dung giáo dục về sản phẩm, quy trình sản xuất, và lợi ích dinh dưỡng đã giúp Trung Quốc tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội.

III. Thực trạng xuất khẩu nông sản qua TMĐT tại Việt Nam

Xuất khẩu nông sản qua thương mại điện tử của Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển với nhiều cơ hội và thách thức. Việt Nam sở hữu lợi thế về nông sản đa dạng như cà phê, gạo, cacao, tôm, cá tra, rau quả tươi sống. Tuy nhiên, tình hình hoạt động xuất khẩu nông sản qua TMĐT vẫn còn khiêm tốn so với các quốc gia khác. Các chính sách hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam bao gồm hỗ trợ phát triển nền tảng TMĐT nông sản, đào tạo kỹ năng, và cải thiện cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, những thách thức trong hoạt động xuất khẩu bao gồm: hạ tầng logistics chưa phát triển hoàn toàn, khó khăn trong thanh toán quốc tế, thiếu nhân lực chất lượng cao, và vấn đề về chứng chỉ chất lượng quốc tế. Hệ sinh thái TMĐT nông sản tại Việt Nam còn chưa hoàn chỉnh như Trung Quốc.

3.1. Thế mạnh nông sản Việt Nam và hiện trạng phát triển

Việt Nam có lợi thế về nông sản tự nhiên với sản lượng cà phê, gạo, cacao hàng đầu thế giới. Nông sản Việt Nam nổi tiếng về chất lượng, an toàn, và được ưa chuộng trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, xuất khẩu nông sản qua TMĐT Việt Nam vẫn chưa khai thác đầy đủ tiềm năng. Các sàn thương mại điện tử trong nước và quốc tế đang cung cấp cơ hội mới cho các doanh nghiệp nông sản Việt Nam.

3.2. Các thách thức và hạn chế trong phát triển TMĐT nông sản

Những thách thức chính bao gồm: hệ thống logistics chưa đáp ứng đầy đủ, chi phí vận chuyển quốc tế cao, thiếu hệ thống thanh toán quốc tế an toàn. Chứng chỉ chất lượng quốc tế yêu cầu cao, cấp chi phí, đòi hỏi nâng cao trình độ sản xuất. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ còn yếu, thiếu kỹ năng marketing, làm thương hiệu trên nền tảng TMĐT xuyên biên giới.

IV. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc cho Việt Nam

Các bài học kinh nghiệm từ hoạt động xuất khẩu nông sản qua TMĐT của Trung Quốc cung cấp những hướng dẫn quý báu cho Việt Nam. Cải thiện môi trường pháp lý và chính sách là yêu cầu cấp bách, bao gồm: hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp TMĐT nông sản, giảm thuế, đơn giản hóa thủ tục hải quan. Phát triển cơ sở hạ tầng logisticshệ thống thanh toán quốc tế đáng tin cậy là nền tảng quan trọng. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đào tạo kỹ năng TMĐT, ngoại ngữ, marketing cho doanh nhân nông sản. Nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam cần sự cam kết về vệ sinh an toàn thực phẩm, sertifikation quốc tế, và tiếp thị thương hiệu. Nắm bắt xu hướng livestreaming là chiến lược marketing hiệu quả để tiếp cận khách hàng trẻ tuổi trên các nền tảng TMĐT xuyên biên giới.

4.1. Cải thiện chính sách và hạ tầng hỗ trợ TMĐT nông sản

Việt Nam cần tạo môi trường chính sách tương tự Trung Quốc, bao gồm: hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp TMĐT nông sản, giảm lãi suất vay, miễn thuế trong giai đoạn đầu. Phát triển cơ sở hạ tầng logistics với các trung tâm phân phối hiện đại, giảm chi phí vận chuyển quốc tế. Xây dựng hệ thống thanh toán điện tử an toàn, hỗ trợ nhiều loại tiền tệ, giảm rủi ro trong giao dịch quốc tế.

4.2. Nâng cao chất lượng thương hiệu và áp dụng xu hướng marketing mới

Việt Nam nên nâng cao chất lượng nông sản thông qua: tuân thủ quy chuẩn quốc tế, cấp chứng chỉ hữu cơ, truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam mạnh, nhận diện trên các nền tảng TMĐT xuyên biên giới. Áp dụng xu hướng livestreaming và content marketing, hợp tác với KOL nước ngoài, tạo cộng đồng khách hàng trung thành trên các sàn thương mại điện tử quốc tế.

10/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU NÔNG SẢN QUA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về xuất khẩu nông sản 1. Khái niệm về xuất khẩu nông sản Theo Smith (1976), "khi tập trung chuyên môn hóa sản xuất những mặt hàng mà bản thân quốc gia có lợi thế tuyệt đối thì có thể sản xuất ra một lượng lớn hàng hóa, có thể dư thừa với nhu cầu sử dụng trong nước nên được mang ra trao đổi với bên ngoài". Còn theo Ricardo, nếu quốc một quốc gia sản xuất và đem trao đổi mặt hàng mình có lợi thế so sánh với quốc gia khác thì cả hai quốc gia đều có lợi.

Như vậy, khi phân công lao động quốc tế phát triển đến một mức độ nhất định, các hoạt động thương mại giữa các quốc gia sẽ diễn ra. Ban đầu, thương mại chỉ đơn thuần là việc trao đổi hàng hóa trực tiếp, nhưng theo thời gian, các hình thức thanh toán trung gian như tiền mặt và séc đã xuất hiện, làm thay đổi cách thức giao dịch. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và công nghệ, thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn với các hình thức mới như thương mại điện tử, cho thuê tài chính hay mua bán nợ thương mại. Những mối liên kết giữa các quốc gia trở nên chặt chẽ hơn, đồng thời mức độ cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt.

Dựa trên nền tảng của hoạt động thương mại hàng hóa, xuất khẩu nông sản có thể được hiểu là quá trình trao đổi sản phẩm nông nghiệp giữa một quốc gia với các quốc gia khác trên thế giới thông qua các giao dịch thương mại. Hoạt động này nhằm khai thác những lợi thế vốn có của quốc gia trong bối cảnh phân công lao động toàn cầu, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh và mang lại giá trị kinh tế cho đất nước. Còn theo Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam định nghĩa: "Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật" (Quốc Hội, 2005). Như vậy, xuất khẩu nông sản có thể được hiểu là quá trình đưa các sản phẩm nông nghiệp – vốn là mặt hàng có lợi thế của Việt Nam - ra khỏi lãnh thổ Việt Nam 6 hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt nam theo quy định của pháp luật, với mục tiêu tiêu thụ tại các quốc gia khác nhằm mang lại giá trị kinh tế.

Đặc điểm của nông sản Thứ nhất, nông sản có tính thời vụ. Hầu hết các loại nông sản có chu kỳ sản xuất theo mùa vụ, không thể sản xuất quanh năm, vì vậy nguồn cung thường không ổn định, có thể dẫn đến tình trạng mất cân đối cung-cầu, dư thừa hoặc khan hiếm tùy thời điểm. Thứ hai, nông sản là mặt hàng yêu cầu bảo quản khắt khe. Nhiều loại nông sản có tính chất tươi sống như rau xanh, trái cây, thịt, sữa.có hạn sử dụng ngắn, dễ bị hỏng, giảm chất lượng nếu không được bảo quản đúng cách.

Một số loại cần bảo quản trong môi trường lạnh, một số khác cần sấy khô, đóng gói hút chân không hoặc chế biến để kéo dài thời gian sử dụng (gạo, đậu, hạt điều). Việc vận chuyển nông sản cũng đòi hỏi điều kiện bảo quản phù hợp để tránh mất chất lượng, nhất là với các loại xuất khẩu như thanh long, xoài, nhãn. Thứ ba, nông sản có đặc tính không đồng nhất. Nông sản là sản phẩm từ quá trình nuôi trồng tự nhiên, nên khó có sự đồng nhất tuyệt đối.

Tùy vào loại cây trồng, vật nuôi và điều kiện sản xuất, mỗi loại nông sản có thể có kích thước và trọng lượng khác nhau. Ví dụ trái cây như dưa hấu có thể nặng từ 2kg đến 10kg tủy giống, gạo có nhiều loại như gạo dài, gạo tròn, gạo nếp, gạo thơm,. Việc phân loại nông sản theo kích cỡ và chất lượng là vô cùng quan trọng trong khâu thu hoạch, chế biến và tiêu thụ để đảm bảo có thể tiêu thụ sản phẩm với đúng giá trị vốn có. Thứ tư, nông sản là sản phẩm phụ thuộc vào điều kiện địa lý.

Nông sản là một sản phẩm chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường xung quanh như khí hậu, đất đai, lượng mưa, nhiệt độ, ánh sáng, nguồn nước, những yếu tố này không thể kiểm soát tuyệt đối, dẫn đến sự biến động về năng suất theo từng thời điểm. Đồng thời phương pháp canh tác và môi trường xung quanh cũng có thể gây ra sâu bệnh, dịch bệnh, kết hợp với điều kiện thời tiết khắc nghiệt như bão, lũ lụt, sương muối có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng của nông sản. Đặc biệt, đối với nông sản xuất khẩu, chỉ cần sai lệch nhỏ trong chất lượng cũng có thể khiến lô hàng bị trả về hoặc bị ép giá. Vai trò của xuất khẩu nông sản Xuất khẩu nông sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia.

Thứ nhất, xuất khẩu nông sản góp phần vào phát triển xuất khẩu của quốc gia, từ đó tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, giảm thâm hụt cán cân thương mại, tích lũy phát triển sản xuất như việc đầu tư nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại, vật tư nông nghiệp tiên tiến phục vụ sản xuất, giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc đẩy mạnh xuất khẩu nông sản không chỉ giúp gia tăng tổng kim ngạch xuất khẩu mà còn góp phần chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng bền vững và có giá trị gia tăng cao hơn. Khi nông sản Việt Nam có thể tiếp cận và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của các thị trường như EU, Mỹ, Nhật Bản…, đồng nghĩa với việc chất lượng sản phẩm và năng lực xuất khẩu được cải thiện rõ rệt. Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP và giữ vững ổn định các chỉ số kinh tế vĩ mô.

Thứ ha, nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều lao động nên hoạt động xuất khẩu nông sản sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người lao động, góp phần ổn định xã hội. Xuất khẩu nông sản giúp các doanh nghiệp nông nghiệp mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp và đất nước. Thứ ba, xuất khẩu nông sản sẽ giúp phát huy được lợi thế của đất nước, do mỗi quốc gia có những điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhữn và nguồn nhân lực khác nhau. Việc đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sẽ giúp tận dụng được nguồn nhân lực sẵn có của quốc gia cũng như doanh nghiệp, sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh của đất nước, tiết kiệm chi phí xã hội.

Thứ tư, xuất khẩu nông sản góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp và sản phẩm. Xuất khẩu nông sản sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng, giá cả cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của thị trường nhập khẩu. Phát triển xuất khẩu nông sản sẽ đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng tích cực, gia tăng các sản phẩm chế biến chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu nông sản trên thị trường thế giới. Các hình thức xuất khẩu nông sản Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mà doanh nghiệp hoặc cá nhân trong nước chủ động tiếp cận thị trường nước ngoài, trực tiếp đàm phán và ký kết hợp đồng với đối tác quốc tế mà không thông qua bên trung gian.

Các thỏa thuận được thiết lập thông qua gặp mặt trực tiếp, trao đổi thư từ, điện thoại, hoặc các phương tiện giao tiếp hiện đại như email, hội nghị trực tuyến. Ưu điểm của hình thức này là sự chủ động trong việc kiểm soát chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, có thể thiết lập mối quan hệ lâu dài giữa các bên, đồng thời tối đa hóa lợi nhuận do không phải chia sẻ chi phí cho bên trung gian. Tuy nhiên, hình thức này yêu cầu doanh nghiệp có kiến thức chuyên sâu về thị trường quốc tế, ngoại ngữ, pháp lý và logistic, và chi phí tiếp cận thị trường và tìm kiếm đối tác có thể cao. Xuất khẩu qua trung gian là hình thức doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của bên thứ ba – có thể là đại lý, nhà môi giới hoặc công ty xuất nhập khẩu – để thực hiện giao dịch xuất khẩu.

Người trung gian thay mặt doanh nghiệp đàm phán, ký kết hợp đồng và thực hiện các thủ tục liên quan. Hình thức này phù hợp với doanh nghiệp nhỏ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong thương mại quốc tế, muốn tận dụng mạng lưới và chuyên môn của bên trung gian. Tuy nhiên, lợi nhuận của hình thức này sẽ thấp hơn do phải chia sẻ với các bên trung gian. Xuất khẩu tại chỗ là hình thức người nước ngoài mua hàng hóa hoặc dịch vụ ngay tại Việt Nam.

Mặc dù hàng hóa không rời khỏi lãnh thổ quốc gia, nhưng vẫn được coi là xuất khẩu vì đối tượng tiêu dùng là người nước ngoài. Ưu điểm của hình thức này là tiết kiệm chi phí vận chuyển và logistics quốc tế, dễ kiểm soát chất lượng sản phẩm, bảo đảm trải nghiệm khách hàng, tủy nhiêu quy mô và doanh thu thường không lớn. Hình thức tái xuất khẩu là quá trình doanh nghiệp mua hàng hóa từ một quốc gia và xuất lại sang một quốc gia khác mà không qua chế biến tại nước trung gian. Đây là hình thức thường thấy tại các trung tâm logistics lớn hoặc các quốc gia có chính sách thương mại mở.

Mục đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua hàng hóa ở nước này rồi bán hàng hóa với giá cao hơn ở nước khác và thu về số vốn lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu (Nguyễn Tuấn Đạt và cộng sự, 2022). Mô hình này thích hợp với các công ty thương mại có vốn lớn và mạng lưới cung ứng mạnh, tuy 9 nhiên sẽ bị phụ thuộc nhiều vào chính sách hải quan, thuế, hiệp định giữa các nước và rủi ro hàng tồn kho nếu không tìm được thị trường tiêu thụ. Gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó người đặt hàng gia công ở nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia công trong nước thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm theo nhu cầu của khách, toàn bộ sản phẩm làm ra sẽ được chuyển về bên thuê gia công (Nguyễn Tuấn Đạt và cộng sự, 2022).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ