CHƯƠNG I 7 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG 1.1 Tổng quan về ngành Hàng không dân dụng Ngành Hàng không dân dụng có công cụ lao động, đối tượng và điều kiện lao động khác biệt với các ngành kinh tế thông thường. Với mục đích lao động nhằm tạo ra những giá trị kinh tế bằng vận tải đường hàng không, mamg tính quốc tế cao do đội ngũ lao động có chuyên môn và kỹ năng đặc biệt thực hiện, ngành HKDD được coi là ngành kinh tế đặc thù. Tại Việt Nam, ngành Hàng không dân dụng có quá trình hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của dân tộc Việt Nam. Ngay từ tháng 6/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Sân bay Lũng Cò thuộc thôn Đồng Đon, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang để vận chuyển quân sự của mặt trận Đồng Minh cho Cách mạng Việt Nam, máy bay L5 của Mỹ vận chuyển đưa đón quân đồng minh, thuốc men, vũ khí từ Côn Minh sang Tân Trào (sân bay dài 400m, rộng 20m).
Sân bay Lũng Cò có thể coi là sân bay “quốc tế” đầu tiên của Việt Nam. Sự hình thành sân bay Lũng Cò tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ giữa Việt Nam và quân Đồng Minh chống kẻ thù chung là phát xít Nhật. Góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng tháng 8 năm 1945. Ngày 9/3/1949 Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra quyết định thành lập Ban nguyên cứu không quân thuộc Bộ Tổng tham mưu; đồng chí Hà Đổng- Trưởng ban.
Nhiệm vụ của Ban là xây dựng cơ sở ban đầu cho không quân nhân dân; tìm hiểu hoạt động của không quân Pháp và nghiên cứu, đề xuất các biện pháp chiến đấu; chuẩn bị cở sở vật chất tài liệu, từng bước huấn luyện đội ngũ cán bộ và nhân viên kỹ thuật, chuẩn bị điều kiện mở rộng hoạt động. Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi; ngày 10 /10 /1954 cùng với việc tiếp quản Thủ đô Hà Nội, bộ đội đã tiến vào sân bay Gia Lâm tiếp quản các vị trí quan trọng. 8 Đúng 12 giờ đêm ngày 31/12/1954 từ sân bay Gia Lâm, một bức điện đã phát để báo cho toàn thế giới biết: “Kể từ 0 giờ ngày 01/1/1955, sân bay Gia Lâm không còn nằm trong khu quản chế của Đông Dương. Tất cả các máy bay muốn vào, ra miền Bắc Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở ra, phải xin phép cơ quan điều phái của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) đặt tại sân bay Gia Lâm - Hà Nội”.
Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mớicủa Việt Nam trong phát triển ngành HKDD cũng như thực hiện chủ quyền về vùng bay do Nhà nước VNDCCH quản lý. Để chuẩn bị cơ sở ban đầu cho việc xây dựng và phát triển không quân và Hàng không dân dụng, ngày 3/3/1955, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 15/QĐA thành lập Ban nghiên cứu sân bay trực thuộc Tổng tham mưu trưởng. Ban có nhiệm vụ chỉ huy, quản lý các sân bay hiện có; tổ chức chỉ huy các chuyến bay hàng ngày; giúp Bộ tổng tham mưu nghiên cứu những nội dung về tổ chức xây dựng lực lượng không quân phù hợp với kế hoạch xây dựng quân đội trong giai đoạn mới. Sau khi hoàn thành kế hoạch xây dựng kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh (1955-1959), miền Bắc bước vào thời kỳ cải tạo và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và chi viện cho cho Cách mạng miền Nam.Để tăng cường công tác quản lý lực lượng của HKDD đồng thời nâng cao vai trò, vị trí của HKDD Việt Nam trên trường quốc tế; ngày 7/6/1963, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 39/BT thành lập lại Cục HKDD Việt Nam.
Trong tình hình cả nước có chiến tranh, cán bộ, chiến sĩ không quân vận tải vừa làm nhiệm vụ quân sự, vừa làm nhiệm vụ bay dân dụng. Các tổ lái và máy bay mang ký hiệu của Hàng không dân dụng Việt Nam (thực chất là lực lượng quân đội, nằm trong biên chế của Trung đoàn Không quân vận tải 919). Trung đoàn 919 đã tổ chức hàng ngàn chuyến bay vận tải phục vụ mở đường Trường Sơn, vận chuyển vũ khí, khí tài phục vụ các đơn vị trong Quân chủng Phòng không - Không quân và nhiệm vụ bay đột xuất theo yêu cầu của công tác sẵn sàng chiến đấu. Đặc biệt trong thời gian này, Hàng không Việt Nam 9 cùng với Liên Xô lập cầu Hàng không Liên xô - Việt Nam-Lào để vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực, quân trang, quân dụng, chuyển quân, bay trinh sát, liên lạc.
làm nhiệm vụ quốc tế với cách mạng Lào. Sau khi đất nước thống nhất ( từ sau ngày 30 /4/1975), nhu cầu đi lại bằng đường hàng không trong cả nướcrất lớn, đòi hỏi ngành HKDD phải trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng của đất nước. Do vậy, Ngày 11/2/1976, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 28/CP về việc thành lập Tổng cục HKDD trực thuộc Hội đồng Chính phủ nhưng về mặt tổ chức quản lý và chỉ đạo xây dựng ngành HKDD vẫn trực thuộc Bộ Quốc phòng. Tổng cục HKDD có các đơn vị sản xuất và phục vụ sản xuất trực thuộc là Đoàn bay 919 hoạt động trên 11 sân bay: Gia Lâm, Tân Sơn Nhất, Phú Quốc, Rạch Giá, Đà Nẵng, Đồng Hới, Phú Bài, Liên Khương, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Quy Nhơn.
Lúc này tổng số có 42 chiếc máy bay các loại. Tháng 6/1976, Tổng cục HKDD ra quyết định về việc thay số đăng ký, sơn cờ và chữ trên các loại máy bay để thống nhất quản lý nhà nước và chủ quyền quốc gia đối với phương tiện vận tải hàng không và phù hợp với tập quán quốc tế. Tiến hành mở lại đường bay A1 (trục Băng Cốc – Hồng Công); thảo luận về việc khôi phục quyền kiểm soát, quản lý và điều hành Vùng thông báo bay (FIR) Sài Gòn nay là FIR Hồ Chí Minh. Ngày 29/8/1989, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 112/HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Tổng cục HKDD Việt Nam, thực hiện chức năng là cơ quan quản lý nhà nước về HKDD và Quyết định 225/CT về việc thành lập Tổng công ty Hàng không Việt Nam thực hiện chức năng vận tải hàng không và các dịch vụ đồng bộ.
Nghị định 112/HDBT nêu rõ “Hàng không dân dụng Việt Nam là ngành kinh tế, kỹ thuật của Nhà nước; Tổng cục Hàng không dân dụng là cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng”. Nghị định 112/HĐBT và Quyết định 225/CT của Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng là một bước ngoặt lịch sử của ngành HKDD Việt Nam. Từ đó, cơ quan quản lý nhà nước về HKDD là cơ quan dân sự, các đơn vị hoạt động kinh tế là một tổ chức kinh tế 10 quốc doanh. Ngày 30/7/1992, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 242/HĐBT, thành lập Cục HKDD Việt Nam( nay là Cục Hàng không Việt Nam), trực thuộc Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện.
Cục Hàng không dân dụng Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước về HKDD, có tư cách pháp nhân, có con dấu và ngân sách riêng, được mở tài khoản tại Kho Bạc Nhà nước. Ngành Hàng không Việt Nam chính thức chuyển từ hoạch toán tập trung toàn ngành sang cơ chế hoạch toán độc lập. Ngày 26/3/1993, Văn phòng Chính phủ đã có công văn 86/TB thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng phát triển của Ngành Hàng không Việt Nam trong thời gian từ 1993 - 2000 phải tập trung xây dựng và phát triển Ngành Hàng khôngViệt Nam thành một nền kinh tế kỹ thuật quan trọng, đủ sức phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong nước cũng như tranh thủ mọi khả năng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài; đồng thời đảm bảo các yêu cầu phát triển văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước. Cục Hàng không Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước đối với mọi doanh nghiệp hàng không.
Vì thế cần tách chức năng quản lý nhà nước của Cục Hàng không Việt Nam với các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hàng không khác. Từ tháng 5/1993, Ngành Hàng không dân dụng Việt Nam đã chính thức hoạt động theo cơ chế mới. Theo Nghị định 242/HĐBT và Quyết định 36/TTg của Thủ tướng Chính phủ, toàn ngành sắp xếp và tổ chức theo hướng tách khối quản lý nhà nước ra khỏi khối sản xuất kinh doanh. Theo đó, Cục Hàng không Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước về chuyên ngành HKDD Việt Nam trong cả nước.
Các đơn vị sản xuất kinh doanh có 13 doanh nghiệp; trong đó hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) là doanh nghiệp lớn nhất. Có thể nói, do chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về Hàng không dân dụng để phục vụ xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước, ngành HKDD Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc trong những năm qua. Hiện nay ở Việt Nam có 22 sân bay có hoạt động bay dân sự (trong đó có 11 11 sân bay quốc tế), số lượng máy bay đăng ký quốc tịch Việt Nam lên đến 161 chiếc, có 46 hãng hàng không từ 24 quốc gia, lãnh thổ có đường bay đến Việt Nam. Theo thống kê của ngành Hàng không Việt Nam, tính đến tháng 12/2019 toàn ngành Hàng không Việt Nam có hơn 44.Trong đó cơ cấu theo lĩnh vực, gồm: - Khối hành chính, sự nghiệp: 796 người = 1,8% - Khối cơ quan Cục Hàng không Việt Nam: 187 người = 0,59% - 03 Cảng vụ hàng không miền Bắc, Trung Nam: 435 người = 0,4% - Trung tâm Y tế Hàng không: 40 người = 0,14% - Học viện Hàng không Việt Nam: 134 người = 0,61% - Khối các doanh nghiệp hàng không: 37.367 người = 84,7% - Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng không và phi hàng khôngkhác: 5.
Những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Hàng không dân dụng bao gồm: - Vận tải hàng không: Vận chuyển hành khách, hàng hóa, hàng không chung do các nhà vận chuyển/hãng hàng không thực hiện. - Kết cấu hạ tầng hàng không: Các cảng hàng không, các sân bay, dịch vụ không lưu… - Công nghiệp hàng không: Sản xuất, bảo dưỡng tàu bay, động cơ, thân, càng, các cấu kiện thiết bị điện tử… trên tàu bay.