phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chương |. Pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTDB ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lí luận. Quá trình hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTDB ở Việt Nam hiện nay. Yêu cầu, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lí VPHC trong lĩnh vực GTDB ở Việt Nam.
6 Chương | PHÁP LUẬT VE XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VUC GTĐB Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - MỘT SO VAN DE LÍ LUẬN 1. KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT XỬ LÍ VPHC TRONG LĨNH VỰC GTĐB 1. Khái niệm GTDB Có thé nói rằng giao thông xuất hiện cùng với xã hội loài người, bởi lẽ việc đi lại, di chuyển từ nơi này đến nơi khác là loại hoạt động cơ bản nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yêu của con người. Theo tiến trình phát triển của xã hội, giao thông ngày càng văn minh, hiện đại hơn (và cũng phức tạp hơn) đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, càng phong phú, đa dạng của xã hội.
Giao thông là phạm trù rộng lớn, trong đó bao hàm cả các điều kiện, cơ sở vật chất-kĩ thuật và các quan hệ xã hội có liên quan đến nhu cầu đi lại của người dân. Xét về mặt xã hội, có thê quan niệm giao thông là tổng thé các quan hệ xã hội (quan hệ giữa người với người) hình thành trên các lĩnh vực khác nhau của giao thông như đường bộ, đường sắt, đường hàng không, hàng hải, đường thủy nội địa. Trong lịch sử phát triển giao thông, GTĐB là lĩnh vực có truyền thống lâu đời nhất. Đây được coi là lĩnh vực giao thông ra đời sớm nhất, nó gắn liền với đời sống con người trải qua các giai đoạn lịch sử cho đến ngày nay và sẽ ngày càng phát triển.
GTDB là toàn bộ hệ thống các cơ sở, điều kiện vật chất- kĩ thuật cũng như các quan hệ xã hội có liên quan đến nhu cầu đi lại băng đường bộ (đường di trên đất liền, dùng cho người đi bộ và cho xe cộ - nói khái quát” [44, tr. 357] của người dân. Về mặt vật chat-ki thuật, “đường bộ” là hệ thống giao thông gồm đường, cầu đường bộ, ham đường bộ, bến pha đường bộ. được triển khai trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ quốc gia (vùng đất liền).
Đường bộ là hệ thống giao thông thống nhất giữa các vùng, miền, các tỉnh, thành phố (liên tỉnh) và trong nội bộ khu vực hành chính, dân cư (liên huyện, quận, xã, phường, thôn, xóm. Đường bộ có ba loại đường là đường chính, đường nhánh và đường gom (đường để gom hệ thống đường giao thông nội bộ của các khu đô thị, công nghiệp, kinh tế, dân cư, thương mại - dịch vụ và các đường khác vào đường chính hoặc vào đường nhánh trước khi dau nối vào đường chính). Mạng lưới đường bộ được phân chia thành sáu hệ 7 thống là quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng. Trong điều kiện tăng cường mở cửa hội nhập quốc tế như hiện nay, hệ thống đường bộ quốc gia (nội địa) còn được kết nối với hệ thống đường bộ liên quốc gia (quốc tế), tạo thành mạng lưới đường bộ liên thông giữa các khu vực địa lí, các châu lục trên thế gidi.
GTDB là khái niệm rộng hon khái niệm “đường bộ”, bởi lẽ ngoài “đường bộ”, GTĐB còn bao gồm những yếu tố khác thuộc công trình đường AOD bộ như nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây SỐ, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác và các yếu tố thuộc kết cấu ha tầng GTĐB như bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ. Khái niệm GTDB còn được nhìn nhận từ góc độ “đất của đường bộ”, tức là phần đất trên đó các công trình đường bộ được xây dựng và phần đất dọc hai bên đường bộ (hành lang an toàn đường bộ) dé quản lí, bao trì, bảo vệ công trình đường bộ. Thậm chí về giới hạn không gian, GTDB còn được triển khai đến phạm vi độ cao nhất định gọi là “khổ giới hạn của đường bộ”. Đó là khoảng trống có kích thước giới hạn về chiều cao, chiều rộng của đường, cầu, bến phà, ham đường bộ dé các xe kế cả hàng hoá xếp trên xe đi qua được an toàn.
GTĐB cũng được tiếp cận từ các yếu tô tham gia hoạt động giao thông và quan lí hoạt động giao thông. Đó là các yếu t6 con người như người tham gia giao thông (người đi bộ, người điều khiển phương tiện giao thông, người điều khiển dẫn dắt súc vật), người điều khiển giao thông (cảnh sát giao thông: người được giao nhiệm vụ hướng dẫn giao thông tại nơi thi công, nơi ùn tắc giao thông, ở bến phà, tại cầu đường bộ đi chung với đường sắt), hành khách (người được chở trên phương tiện vận tải hành khách đường bộ, có trả tiền): các yếu tô vật chat-ki thuật như các phương tiện tham gia giao thông (phương tiện giao thông, xe máy chuyên dung); hàng hoá, hành lí. Đó còn là các co quan có thâm quyền quản lí GTĐB như cơ quan thực hiện chức năng quản lí nhà nước chuyên ngành thuộc Bộ giao thông vận tải; cơ quan chuyên môn 8 thuộc ủy ban nhân dân tinh, thành phố trực thuộc trung ương, ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; ủy ban nhân dân xã, phường, thị tran. Trong các hoạt động kinh tế-xã hội liên quan đến GTĐB thì vận tải đường bộ (sử dụng phương tiện giao thông dé vận chuyên người, hàng hoá) là hoạt động quan trọng nhất, nó đóng vai trò ngày càng quan trọng, phục vụ đắc lực cho tiến trình phát triển của đất nước và đời sống của nhân dân.
Từ góc độ xã hội có thé thay GTĐB bao gồm tổng thé các quan hệ xã hội liên quan đến việc thực hiện các hoạt động giao thông trên đường bộ. Đó là các quan hệ xã hội phát sinh trong những quá trình và hoạt động sau: - Xác định và thực hiện các quy tắc giao thông; - Dam bảo kết cau hạ tang giao thông; - Sự tham gia giao thông của người và phương tiện; - Hoạt động vận tải đường bộ; - Hoạt động quản lí nhà nước về GTĐB. Khái niệm VPHC và xử lí VPHC trong lĩnh vực GTĐB 1. Khải niệm VPHC trong lĩnh vực GTĐB Theo quan niệm hiện nay của các nhà luật học thì VPHC nói chung là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật quản lí nhà nước do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách có ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm va theo quy định của pháp luật thì bị xử phạt hành chính.
Đó cũng là quan điểm chính thức của Nhà nước được thê hiện trong quy định pháp luật hiện hành (Pháp lệnh xử lí VPHC năm 2002; sửa đổi, b6 sung năm 2008). Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lí VPHC đã gián tiếp định nghĩa VPHC thông qua quy định về xử phạt VPHC như sau: “Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vì cô ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm va theo quy định của pháp luật phải bị xứ phạt hành chính". Xét về cầu trúc, cũng giống như các vi phạm pháp luật khác, VPHC gồm bốn yếu tô cau thành là: mặt khách quan, chủ thé, mặt chủ quan và khách thể. VPHC có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm, do vậy trong nhiều trường hợp cần xác định rõ ranh giới giữa VPHC và tội phạm dé việc ban hành và áp dụng pháp luật được khách quan, chính xác.
Ngoài ra, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, nếu VPHC có thể do cá nhân, tổ 9 chức thực hiện thì chủ thé của tội phạm chỉ có thể là cá nhân. Tuy có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm nhưng VPHC lai là loại vi phạm pháp luật xảy ra pho biến trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay khi mà chúng ta đang tiến hành xây dựng nên kinh tế thị trường, cải cách, mở cửa, đây mạnh hội nhập quốc té. Những vi phạm này gây thiệt hại hoặc de doa gây thiệt hại cho lợi ich cua Nhà nước, tập thể, cá nhân cũng như cộng đồng. Nếu sự phân chia các lĩnh vực hoạt động kinh tế-xã hội là căn cứ dé phân chia các lĩnh vực quản lí nhà nước thì đó cũng là căn cứ phân chia các VPHC thành những loại khác nhau.
Với quan niệm như vậy có thể hiểu VPHC trong lĩnh vực GTĐB là loại VPHC xảy ra trong quá trình hoạt động GTDB. Nói cách khác đó là các vi phạm (bằng hành động hoặc không hành động trái với) những quy định của pháp luật GTĐB. VPHC trong lĩnh vực GTĐB gồm 6 nhóm vi phạm sau [28]: + Nhóm thứ nhất - Các vi phạm quy tắc GTPB: Các quy tac GTĐB bao gồm tong thé các quy tắc chung và các quy tắc về hệ thống báo hiệu đường bộ, chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ; tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe; sử dụng làn đường; vượt xe; chuyên hướng xe; lùi xe; tránh xe đi ngược chiều; dừng, đỗ xe trên đường bộ; dừng, đỗ xe trên đường phố; xếp hàng hoá trên phương tiện GTĐB; quyền ưu tiên của một số loại xe; qua phà, qua cầu phao; nhường đường tại nơi đường giao nhau; đi trên đoạn đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, cầu đường bộ đi chung với đường sắt; giao thông trên đường cao tốc, trong hầm đường bộ; tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ; xe kéo xe và xe kéo ro moóc; người điều khién, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy; người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, người điều khiển xe thô sơ khác; người đi bộ; người khuyết tật, người già yếu tham gia giao thông: người dan dắt súc vật đi trên đường bộ; các hoạt động văn hoá, thé thao, diễu hành, lễ hội trên đường bộ; một số hành vi bị cam như họp chợ, tụ tập đông người trái phép, thả rông súc vật.; sử dụng đường phố và các hoạt động khác trên đường phố.