Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Một số vấn đề chung về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng 1. Khái niệm về nợ xấu Đối với các tổ chức tín dụng, nợ xấu được coi là rủi ro tín dụng, nó phản ánh trình độ phát triển và sức khỏe của toàn bộ nền kinh tế, năng lực kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng trước những sức ép thường xuyên do tác động của tình trạng bất ổn vĩ mô. Một khoản nợ được coi là nợ xấu nếu nó xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng coi là không có khả năng trả nợ.
Song cũng cần phân biệt giữa hai khái niệm nợ xấu và nợ khó đòi. Nợ xấu (NPLs) và nợ khó đòi (Doubtful debt) là hai khái niệm khác biệt nhau. Do đó, khi nhìn từ một góc độ toàn diện, vấn đề nợ xấu không còn là mối quan hệ hợp đồng đơn giản, mà ở mức cao hơn cụ thể là: điều tiết hệ thống thị trường ngân hàng một cách toàn thể. Việc giải quyết nợ xấu cần phải xem xét trong một phạm vi hệ thống pháp luật toàn diện không chỉ đơn giản là luật hợp đồng mà còn là luật tài chính, luật thuế, luật tài sản và các quy định hành chính, các quy tắc, thông báo hoặc hướng dẫn.
Phân loại nợ xấu Ngân hàng thế giới phân loại nợ xấu thành các loại sau: Nợ đạt tiêu chuẩn: Là có tài sản thế chấp theo nghĩa đầy đủ hoặc không quá hạn. 9 Nợ cận chuẩn: Là có tài sản thế chấp đầy đủ nhưng có biểu hiện các điểm yếu tín dụng. Những điểm yếu tín dụng này bao gồm các yếu tố chậm trễ đến việc trả nợ có thể hơn 30 ngày nhưng chưa đến 90 ngày. Nguồn vốn của người vay có biểu hiện không đủ đáp ứng cho các cam kết trả nợ, cần phải có thêm nguồn vốn vay lưu động.
Nợ có vấn đề: Khoản vay được đánh giá là có vấn đề bao gồm tất cả các khoản vay cận chuẩn kèm theo các đặc điểm sau: dựa trên thực tiễn, các điều kiện và giá trị hiện tại sẵn có, việc thu đủ nợ là không chắc chắn và rất đang ngờ. Không chắc chắn về việc đánh giá và tính khả mại của thế chấp. Tính đầy đủ của hồ sơ pháp lý thế chấp cũng cần nghiên cứu và xem xét lại. Và các khoản vay có vấn đề đang trì trệ hoạt động, việc trả lãi nợ vay vượt quá thời hạn 90 ngày nhưng không quá 365 ngày.
Nợ không thu hồi được: Khoản cho vay bị liệt vào loại nợ này là khoản cho vay không thể thu hồi được hoặc thu hồi rất ít. Sự tồn tại của nó trong danh mục tài sản của ngân hàng được coi là không đảm bảo. Tài sản này có thể có một số giá trị thu lại được hoặc còn lại giá trị sau khi khấu hao, nhưng khả năng thiệt hại cao nên khả năng lỗ cần được ghi nhận ngay hoặc tài sản nên được xóa sổ. Nguyên nhân của nợ xấu (1) Nhóm nguyên nhân từ môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng và cơ chế xử lý nợ xấu: Có thể nói rằng lĩnh vực hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro cao và để giúp giảm thiểu rủi ro thì luôn đòi hỏi sự hậu thuẫn của hệ thống pháp luật.
(2) Nhóm nguyên nhân từ phía các ngân hàng thương mại: Tình hình nợ xấu của Việt Nam hiện nay có một phần lớn nguyên nhân đến từ sự yếu kém của nội bộ các ngân hàng, tổ chức tín dụng: Nợ xấu tăng cao cũng là 10 hệ quả tất yếu của quá trình tăng trưởng tín dụng quá nóng. Khuôn khổ quản trị hiện hành này chưa bảo vệ được quyền cổ đông đối với tất cả các cổ đông. (3) Nhóm nguyên nhân từ môi trường kinh doanh và hoạt động của các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài: Vấn đề ở đây là sự kéo dài trong nhiều năm, các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả do nhiều nguyên nhân. Thua lỗ kéo dài dẫn đến việc không hoàn trả được các khoản công nợ, nhất là các khoản nợ vay ngân hàng.
Đây là nợ khó xử lý nhất và bị tồn đọng trong nhiều năm, bản chất là đã mất vốn, không còn tài sản tương ứng với các khoản nợ này. Nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng: Nền kinh tế chịu nhiều tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, do đó môi trường kinh doanh và hoạt động ngân hàng gặp nhiều khó khăn làm cho chất lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Tác động của nợ xấu Thứ nhất, tác động của nợ xấu đối với nền kinh tế (mọi lĩnh vực của nền kinh tế) Nợ xấu tạo ra gánh nặng ngân sách trong vấn đề xử lý nợ xấu. Khi nợ xấu ra tăng gây đình trệ nền kinh tế.
Bởi lẽ, ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro, do đó lượng vốn đưa vào lưu thông bị hạn chế. Thứ hai, tác động của nợ xấu với các ngân hàng thương mại Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng: Nợ xấu làm cho doanh thu thấp (do không thu được lãi vay) dẫn đến lợi nhuận thu được ít 11 hơn dự kiến, thấp đi, thậm chí là lỗ. Trường hợp không phát sinh lỗ thì các khoản chi phí xử lý các khoản nợ xấu cũng tăng lên đáng kể, bao gồm: chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí quản lý nợ xấu, chí phí trích lập dự phòng rủi ro. Việc gia tăng các khoản chi phí khiến cho lợi nhuận còn lại cũng trở nên thấp hơn so với dự tính ban đầu.
Không những thế, nợ xấu còn hạn chế khả năng mở rộng và tăng trưởng tín dụng của ngân hàng. Thứ ba, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng Do không thu hồi được các khoản cho vay đúng hạn, nên nợ xấu làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của tổ chức tín dụng, làm chậm vòng quay của vốn; giảm hiệu quả sử dụng vốn; giảm lợi nhuận. Giảm uy tín của ngân hàng: Khi các tổ chức tín dụng có mức độ rủi ro của tài sản cao thì tổ chức tín dụng đó thường đứng trước nguy cơ mất uy tín của mình trên thị trường. Lý luận pháp luật về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng 1.
Khái niệm pháp luật xử lý nợ xấu Từ bản chất nợ xấu có thể hiểu, xử lý nợ xấu là quá trình giải quyết các khoản nợ đã phát sinh và ngăn chặn các khoản nợ xấu mới phát sinh. Nói cách khác, xử lý nợ xấu là những biện pháp, phương pháp, cách thức được đưa ra để giải quyết các khoản nợ khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn và các biện pháp ngăn chặn khoản nợ xấu phát sinh trong tương lai. Trong bất kỳ một hệ thống tài chính nào, thì việc xử lý nợ xấu và ngăn chặn nợ xấu phát sinh phải được làm song song đồng thời nhau. Xử lý nợ xấu đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế.
Việc xử lý nợ xấu cần phải tiến hành ngay, càng để lâu thì nợ xấu càng gây ra những hậu quả to lớn cho nền kinh tế. 12 Cụ thể: + Quyết định số 780/QĐ- NHNN của NHNN ban hành ngày 23/4/2012 về việc phân loại nợ đối với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. + Văn bản số 7789/NHNN-TTGSNH ban hành ngày 27/11/2012 về việc trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro. + Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; + Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Thông tư này quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo chuẩn mực Basel II mà nhiều nước trên thế giới đang áp dụng. + Quyết định 843/2013/QĐ-TTg: Phê duyệt Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng” và Đề án “Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam”; + Nghị định số 53/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/5/2013 về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam; 13 + Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/09/2013 Quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý Tài sản của các Tổ chức tín dụng; + Thông tư số 14/2014/TT-NHNN ngày 20/5/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; + Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư này cho phép các tổ chức tín dụng tiếp tục được thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ kể từ ngày 20/3/2014 đến hết ngày 01/4/2015 nhưng mỗi khoản nợ chỉ được cơ cấu lại một lần. + Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/3/2015 của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2013; + Chỉ thị 02/CT-NHNN ngày 27/01/2015 về việc tăng cường xử lý nợ xấu của TCTD, một văn bản tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về mua, bán và xử lý nợ xấu được triển khai mạnh mẽ trong năm 2015.