ĐẶT VẤN ĐỀ Ở nƣớc ta, ngành dệt chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đƣợc tổ chức sản xuất rộng rãi từ quy mô hộ gia đình, làng nghề, hợp tác xã đến các nhà máy xí nghiệp. Trong quá trình sản xuất, ngành dệt nhuộm sản sinh ra một lƣợng lớn nƣớc thải. Thành phần nƣớc thải rất phức tạp bao gồm nhiều loại hóa chất, đặc biệt là các loại phẩm màu, hầu hết các loại phẩm màu đều bền trong môi trƣờng, khó phân hủy sinh học làm giảm khả năng truyền ánh sáng vào nƣớc; cản trở quá trình quang hợp ảnh hƣởng nghiêm trọng tới sự sống của các loài thủy sinh và sức khỏe con ngƣời. Nhiều nghiên cứu xử lý nƣớc thải dệt nhuộm đặc biệt là xử lý màu của chúng trên thế giới đã đƣợc tiến hành nhằm hạn chế ảnh hƣởng tiêu cực của nó tới môi trƣờng.
Các phƣơng pháp xử lý thông thƣờng đƣợc sử dụng nhƣ hóa lí và sinh học. Tuy nhiên, hai phƣơng pháp này cho hiệu quả xử lý không cao tốn nhiều thời gian và không triệt để, phát sinh một lƣợng lớn bùn thải sau đó phải tiếp tục xử lý nhƣ xử lý chất thải rắn, đòi hỏi vốn đầu tƣ cao, hiệu quả kinh tế thấp. Vì vậy, cần nghiên cứu áp dụng các phƣơng pháp tiên tiến đạt hiệu quả cao hơn nhƣ: hấp phụ, điện keo tụ, màng sinh học, oxy hóa. Trong đó, phƣơng pháp oxy hóa với khả năng oxy hóa không chọn lọc các hợp chất hữu cơ đƣợc xem là giải pháp phù hợp hơn cả.
Phƣơng pháp oxy hóa nâng cao sử dụng các tác nhân chủ yếu: O3 , H2O2, UV có khả năng oxy hóa mạnh phá vỡ cấu trúc hóa học tạo ra các chất mới không màu, ít độc tính, khối lƣợng phân tử nhỏ thuận lợi cho quá trình xử lý tiếp theo nên nó có tính ứng dụng thực tiễn cao, vì vậy chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu xử lý màu cho nước thải dệt nhuộm bằng tác nhân oxy hóa nâng” với mục đích tìm phƣơng pháp khả thi cho xử lý độ màu của nƣớc thải dệt nhuộm đã qua quá trình sản xuất thủ công. Đại học Khoa học Tự nhiên 5 Khoa Hóa học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tạ Thị Trang Nhâm Luận văn thạc sĩ Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT VÀ PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ MÀU NƢỚC THẢI DỆT NHUỘM 1. Ngành dệt và các vấn đề môi trường nước thải dệt nhuộm 1.
Sự phát triển của ngành dệt Sự hình thành của ngành dệt may Việt Nam với vai trò là một ngành công nghiệp bởi sự ra đời của nhà máy liên hợp dệt Nam Định năm 1897. Năm 1976, các sản phẩm bắt đầu đƣợc xuất khẩu tới các nƣớc thuộc khối Hội Đồng Tƣơng Trợ Kinh Tế với bạn hàng đầu tiên và quan trọng nhất là Liên Xô cũ thông qua các hợp đồng gia công. Với các hợp đồng gia công nhƣ vậy, ngành dệt may Việt Nam phát triển nhanh chóng trong các năm 1987-1990, các xí nghiệp dệt may đƣợc thành lập khắp trên cả nƣớc. Nhờ có tiến trình đổi mới và quá trình dịch chuyển sản xuất ngành công nghiệp dệt may bƣớc sang một giai đoạn mới với sự hội nhập quốc tế rộng rãi.
Theo số liệu của trung tâm thƣơng mại thế giới, Việt Nam đứng trong danh sách nhóm 10 nƣớc có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới về hàng dệt may trong giai đoạn 2007-2009 và đứng ở vị trí thứ 7 [2]. Giai đoạn 2006 đến tháng 10 năm 2011, ngành dệt may đóng góp trên 15% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nƣớc. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Nguồn: GSO, HBBS Việt Nam xuất khẩu hàng dệt may đi 54 thị trƣờng trên toàn thế giới, 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đến các thị trƣờng này chiếm gần 89,5% [2] tổng kim ngạch. Tính chung cho cả ngành dệt may, Việt Nam là nƣớc xuất khẩu ròng, tuy nhiên, do ngành dệt may phải nhập khẩu đầu vào cho ngành với giá trị rất lớn, chiếm bình quân khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu từ 2007 đến tháng 10 năm 2011 (đơn vị: triệu USD).
Đại học Khoa học Tự nhiên 6 Khoa Hóa học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tạ Thị Trang Nhâm Luận văn thạc sĩ Hình 1. Cán cân xuất – nhập khẩu 2007-10/2011 (Nguồn: GSO, HBBS) Trong kim ngạch nhập khẩu nói chung, vải là sản phẩm đƣợc nhập khẩu nhiều nhất, chiếm bình quân gần 62% giá trị nhập khẩu nguyên liệu hàng năm trong giai đoạn 2007 đến tháng 10 năm 2011. Chiếm tỉ trọng lớn thứ 2 là nguyên phụ liệu với tỉ trọng bình quân gần 20%. Bông và xơ sợi các loại đứng thứ 3 và thứ 4 tổng kim ngạch nhập khẩu.
Đặc điểm làng nghề dệt nhuộm Các làng nghề dệt nhuộm tập trung chủ yếu khu vực miền bắc là những làng nghề truyền thống có từ lâu đời cùng với sự phát triển chung của ngành dệt Việt Nam, các làng nghề đóng góp một tỉ trọng không nhỏ khoảng 25-30% [1, 2] sản lƣợng dệt nhuộm. Sản phẩm tập trung chủ yếu là hàng truyền thống tơ, lụa phục vụ xuất khẩu. Số lƣợng thiết bị dệt thoi 6.670 máy chiếm 10% [4] so với toàn ngành dệt may. - Công nghệ sản xuất cũ, không đồng bộ mang tính thủ công cao.
- Các thiết bị phụ trợ xử lý giảm thiểu ô nhiễm không đƣợc trang bị. - Cơ sở hạ tầng thiếu thốn, nghèo nàn, tự phát. Một số làng nghề dệt nhuộm điển hình nhƣ các làng nghề ở Hà Tây cũ nay thuộc Hà Nội: làng nghề dệt truyền thống Vạn Phúc, Dƣơng Nội, Phùng Xá số hộ gia đình tham gia dệt nhuộm chiếm từ 80 - 85%. Đại học Khoa học Tự nhiên 7 Khoa Hóa học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tạ Thị Trang Nhâm Luận văn thạc sĩ Sản xuất của các làng nghề chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp sản xuất.
Tại xã Dƣơng Nội, số lao động làm nghề dệt, nhuộm khoảng 2.000 ngƣời, một năm sản xuất trung bình gần 11. Hiện trạng môi trường do nước thải dệt nhuộm Trong những năm gần đây, ngành dệt nhuộm – may mặc đƣợc sự quan tâm của nhà nƣớc và đầu tƣ của nƣớc ngoài, một số nhà máy lớn đã đầu tƣ trang bị kỹ thuật, công nghiệp hiện đại. Nhiều loại máy móc, thiết bị hiện đại đã đƣợc đầu tƣ chiều sâu, nhƣ các máy văng sấy Monforts, máy nhuộm liên tục Monforts; các máy in lƣới quay Stork, máy in lƣới phẳng Buser; các máy nhuộm “khí động lực” (Air- Thies). Tuy vậy, theo đánh giá của các chuyên gia, công đoạn nhuộm với 30% máy móc thiết bị cần khôi phục, hiện đại hóa do đã sử dụng trên 20 năm [4], công đoạn dệt nhuộm vẫn đang là nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng khá mạnh cả về lƣợng cũng nhƣ chất.
Đối với các làng nghề hầu hết công nghệ cũ kĩ, thủ công, vì vậy, các thành phần thải của quá trình sản xuất dệt nhuộm đang gây ô nhiễm môi trƣờng. Khảo sát tại một số làng nghề Dƣơng Nội, Vạn Phúc, Phùng Xá, La Phù, Cộng Hòa thuộc Hà Nội, hầu hết các hộ gia đình không có khu sản xuất riêng mà sản xuất trực tiếp ngay trong khu sinh hoạt của gia đình trong điều kiện đất đai ở các làng nghề chật hẹp, khiến mức độ ảnh hƣởng trực tiếp của ô nhiễm môi trƣờng gây ra cho ngƣời lao động rất lớn. Nƣớc thải từ các hộ gia đình và các doanh nghiệp dệt, tẩy nhuộm chƣa đƣợc xử lý xả thẳng xuống kênh dẫn chảy ra sông Nhuệ khiến nƣớc bị ô nhiễm nặng. Vào mùa khô, lòng mƣơng cạn, nƣớc bốc mùi, khi trời mƣa nƣớc thải dệt nhuộm chảy tràn xuống ruộng canh tác gây hại cho cây trồng.
Đặc biệt sự ô nhiễm đã đến mức báo động tại sông Nhuệ và sông Đáy. Ô nhiễm màu môi trường nước từ hoạt động dệt nhuộm 1. Nước thải phát sinh trong quá trình dệt nhuộm Quá trình sản xuất vải Vải đƣợc tạo thành từ nguyên liệu qua ba bƣớc chính sau: • Sản xuất sợi • Sản xuất vải • Xử lý vải Đại học Khoa học Tự nhiên 8 Khoa Hóa học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tạ Thị Trang Nhâm Luận văn thạc sĩ Sản xuất sợi Quy trình sản xuất các loại sợi khác nhau đƣợc thực hiện qua các công đoạn tƣơng tự nhau. Đầu tiên, xơ đƣợc làm sạch nhằm loại bỏ các tạp chất.
Xơ đƣợc pha trộn theo tỉ lệ và kéo dài dƣới dạng cúi sợi để các xơ gần nhƣ là song song. Quá trình pha trộn đƣợc tiếp tục bằng cách kết hợp các cuộn cúi và xe mảnh, đƣợc gọi là kéo duỗi. Việc loại bỏ các xơ sợi quá ngắn để xơ sợi trong con cúi đều nằm trong giới hạn chiều dài nhất định đƣợc gọi là chải thô. Công đoạn chải kỹ sẽ tiếp tục làm các sợi song song với nhau đến khi còn rất ít sợi bị quấn vào nhau.
Lúc này, xơ sợi đƣợc gọi là sợi thô. Cuối cùng, xơ sợi đồng nhất ở dạng sợi thô đƣợc kéo và xe lại tạo ra sợi thành phẩm. Chất thải sinh ra chủ yếu trong bƣớc đầu tiên khi làm sạch xơ và khi chải thô. Xơ len thô chứa khoảng 50% tạp chất ở dạng dầu mỡ tự nhiên và nƣớc ẩm [6].
Các loại tạp chất này đƣợc loại bỏ bằng cách nấu trong dung dịch xà phòng có chứa kiềm. Khoảng 25% lụa thô có chứa nhựa tơ, có thể loại bỏ bằng cách nấu tơ trong dung dịch xà phòng đậm đặc. Sản xuất vải Xơ và sợi là nguyên liệu sản xuất vải. Các loại vải đƣợc sản xuất gồm: vải dệt thoi, vải dệt kim, vải không dệt, các công đoạn sản xuất vải bao gồm: Xử lý vải: Các công đoạn chính đƣợc áp dụng trong giai đoạn này bao gồm: Xử lý sơ bộ (giũ hồ, nấu chuội, kiềm bóng, tẩy trắng); nhuộm và in hoa; hoàn tất Giũ hồ: là quy trình nhằm loại bỏ các chất hồ.
Có 3 loại chất hồ: hồ tự nhiên, hồ tổng hợp và hồ hỗn hợp. Đối với vải tổng hợp, vải mộc thƣờng có chứa các chất hồ tổng hợp tan đƣợc trong nƣớc và đất nhƣ polyvinyl alcohol (PVA), carboxyl methyl cellulose (CMC) và polyacrylytes. Tuy nhiên, trong các loại vải cotton, thì hồ tinh bột là chủ yếu. Chất thải sinh ra khi loại bỏ các chất hồ này là các chất hữu cơ và có khả năng phân hủy sinh học cao.
Trong công đoạn giũ hồ, 90% các chất hồ đƣợc thải ra theo nƣớc thải, khiến cho dòng thải này trở thành một trong các dòng thải có độ ô nhiễm cao. Dòng thải có tải lƣợng BOD và COD cao ở mức 600. Các chất hồ tổng hợp không thể phân huỷ sinh học có thể thoát qua hệ thống xử lý và gây độc hại cho nguồn nƣớc tiếp nhận.