Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi 1. Khái niệm bị cáo là người dưới 18 tuổi - Người dưới 18 tuổi theo BLDS 2015: Theo Điều 21 BLDS năm 2015 quy định: “1. Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi… ” 2.
Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.” Qua đó, ta có thể định nghĩa Người chưa đủ 18 tuổi là người phát triển chưa đầy đủ về thể chất và tinh thần… - Theo Điều 49, Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em được định nghĩa là người chưa đủ 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn; qua đó chúng ta hiểu NCTN là người dưới 18 tuổi. Khái niệm về người chưa đủ 18 tuổi cũng đã được các quốc gia đưa ra khác nhau do sự phát triển của từng nước khác nhau.
Công ước về Quyền trẻ em không áp đặt cho các nước là thành viên tham gia quy định về độ tuổi cho người chưa đủ 18 tuổi nhưng hiện nay cũng chưa có sự thống nhất các văn bản pháp luật quy định về quyền trẻ em. Qua đó, có thể thống nhất NCTN là người chưa đủ mười tám tuổi. 7 Luan van - Người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật hình sự: Hiện nay, vấn đề quyền của người dưới 18 tuổi đang được dư luận xã hội quan tâm, đặc biệt là trong trường hợp người dưới 18 tuổi trở thành đối tượng tác động của các hoạt động TTHS; TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội được đề cập trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có nội dung pháp lý rõ nét, phạm vi điều chỉnh bao quát được nhà làm luật quy định trong một chương riêng thuộc Phần chung – Chương XII trong BLHS hiện hành. Từ đó, mặc dù không quy định trong Bộ luật hình sự nhưng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi phạm tội” được hiểu là người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm.
Tinh thần xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải thể hiện sâu sắc tính nhân đạo, vì vậy, tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định độ tuổi chịu TNHS trong từng trường hợp cụ thể và chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đối với những tội đã được quy định trong Bộ luật Hình sự. So sánh với Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thu hẹp phạm vi các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, theo đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại 28 điều luật. Việc quy định này thể hiện rõ chính sách hình sự khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 định nghĩa bị cáo là người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử, như vậy có thể hiểu bị cáo là NCTN ở thời điểm đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.
Từ phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về bị cáo là người dưới 18 tuổi như 8 Luan van sau Bị cáo là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định, là tội phạm bị tòa án quyết định đưa ra xét xử. Trong phạm vi đề tài này, chúng ta có thể hiểu bị cáo là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử. Các đặc điểm của bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội - Về trạng thái cảm xúc: Ở trẻ dưới 18 tuổi có sự thay đổi lớn về mặt sinh học, về tâm lý. Với những đặc điểm sinh lý riêng biệt, trẻ muốn khẳng định mình nên dễ thay đổi tính cách, tuy trưởng thành về mặt cơ thể nhưng trẻ chưa được hình thành nhân cách.
Do điều kiện sống của trẻ em ngày càng tốt hơn, sự phát triển về thể chất, năng lực nhận thức, năng lực hành vi của trẻ em vượt bậc hơn so với các thế hệ trước đây. Trẻ em được tham gia các quan hệ xã hội từ rất sớm, có cơ hội tiếp cận các dịch vụ công nghệ nên ngày càng có kinh nghiệm sống, phán xét, xử lý tình huống nhanh nhạy hơn. Cũng chính vì vậy các hành vi phạm tội do trẻ em gây ra ngày càng nghiêm trọng hơn. Có trường hợp trẻ em phạm tội thường là những người có hoàn cảnh khó khăn, có tuổi thơ phức tạp, giáo dục không đầy đủ dẫn đến nhận thức lệch lạc,… - Về nhận thức pháp luật: Nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của người dưới 18 tuổi chưa thực sự đầy đủ; Đó là lứa tuổi mà kinh nghiệm trong cuộc sống còn quá ít ỏi, đặc biệt là khả năng nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế.
Một bộ phận không nhỏ NCTN thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn tính tò mò, nhu cầu cá nhân, hứng thú không đúng đắn của cá nhân, mà không quan tâm đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Chỉ khi có hậu quả xảy ra, được giải thích, phân tích thì họ mới hiểu rằng hành vi của mình gây ra là sai trái, là phạm tội. - Về nhu cầu độc lập: Ở lứa tuổi chưa thành niên, tâm lý chung họ đều có xu hướng tách ra , ít phụ thuộc vào cha mẹ. Họ tự chuyển từ sinh hoạt gia đình sang sinh hoạt bạn bè; tín ngưỡng để đạt được sự độc lập của mình đối với mọi người xung quanh, phụ thuộc; Đôi khi có những hành vi không đúng đắn như chống đối lại bố mẹ, người thân 9 Luan van ngay cả khi nhận thức được làm điều đó là không đúng.
Họ thích tham gia vào nhiều hoạt động mang tính xã hội, giao tiếp, tiếp xúc với nhiều bạn bè, nhiều người lớn tuổi hơn mình để họ luôn thể hiện mình, chứng minh mình đã lớn ; Hoặc biểu hiện bằng những hành vi không thể chấp nhận được như: cố chấp, dễ tự ái, gây gổ, ngang bướng, phô trương… - Về nhu cầu khám phá cái mới: Ở lứa tuổi chưa thành niên nhu cầu tìm hiểu, khám phá cái mới là điều không tránh khỏi; Tuy nhiên, nếu thiếu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của gia đình - xã hội, các em không tự chủ được bản thân, không phân biệt được phải trái, cái đúng cái sai thì điều đó vô hình chung sẽ dẫn dắt các em đi vào con đường phạm tội mà không hề nhận thức được hành vi của mình đã gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, để đảm bảo xác định sự thật khách quan về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội trong xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội cũng như việc xác định tổng hợp các yếu tố cấu thành tội phạm đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải chú trọng đến: tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi; điều kiện sinh hoạt và giáo dục; có hay không có người thành niên xúi giục; nguyên nhân và điều kiện phạm tội, phải xem xét đầy đủ các khía cạnh liên quan đến người dưới 18 tuổi để từ đó áp dụng biện pháp xử lý đúng đắn, có hiệu quả trong giáo dục cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội, đồng thời có ý nghĩa trong phòng ngừa tội phạm. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi 1. Khái niệm hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi Theo quy định tại khoản 1 đến 11 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử.
Xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, Toà hình sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà lao động, toà hành chính thuộc Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; theo quy định của pháp luật tố tụng Toà án 10 Luan van nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn của TTHS, trong đó, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà xem xét, giải quyết vụ án bằng việc ra bản án quyết định bị cáo có tội hay không có tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp, cũng như các quyết định tố tụng khác theo quy định của pháp luật do tòa án có thẩm quyền (cấp xét xử thứ nhất ) thực hiện .