đặt vấn đề và giao nhiệm vụ cho HS. HS hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, trong quá trình giải quyết nhiệm vụ HS sẽ gặp khó khăn và nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết. Những khó khăn ban đầu của HS được GV gợi ý để các vấn đề được diễn đạt một cách chính xác, phù hợp với mục tiêu và các nội dung cụ thể đã xác định. - Trong quá trình HĐNT, GV theo dõi, định hướng, chỉ đạo sự trao đổi, tranh luận của HS và có những gợi ý cần thiết; HS chủ động tìm tòi GQVĐ đặt ra theo một tiến trình hợp lí.
11 - Sau cùng, GV chỉ đạo sự trao đổi, tranh luận về kết quả của HS đối với những nhiệm vụ đã được đặt ra, bổ sung, tổng kết, khái quát hoá, chuẩn hoá kiến thức, kiểm tra kết quả, nhận xét, đánh giá. Như vậy, nét đặc trưng của hoạt động dạy là: tổ chức tình huống học tập; kiểm tra định hướng hành động học độc lập tự chủ sáng tạo, trao đổi, tranh luận của HS; bổ sung, chính xác hóa, khái quát hóa, chuẩn hóa tri thức. Và nét đặc trưng của hoạt động học là: ý thức được vấn đề cần giải quyết; độc lập suy nghĩ kết hợp với ghi nhận thông báo có kiểm tra phê phán để xác định giải pháp; tự chủ hành động giải quyết nhiệm vụ học, kết hợp với trao đổi, tranh luận để xây dựng được tri thức. Phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học Việc xác định các phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong thiết kế bài học, vì nó có tính quyết định đến việc thực hiện mục tiêu và chất lượng dạy học.
Các hình thức tổ chức hoạt động nhận thức khác nhau ở chỗ giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học khác nhau. Trong dạy học vật lý có các phương pháp dạy học thường dùng nhằm phát huy tính tính cực, tự lực của học sinh: phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình, phương pháp tương tự,. Trong tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, GV có thể lựa chọn nhiều phương pháp dạy học khác nhau. Tuy nhiên, mỗi phương pháp dạy học đều có tác dụng tích cực đối với một số mặt học tập của HS giúp HS nắm vững kiến thức và phát triển một số khía cạnh nào đó của kĩ năng, thái độ.
Không có một phương pháp nào là vạn năng, chính vì vậy trong một bài dạy học phải có sự phối hợp các phương pháp dạy học với nhau sao cho có thể phát huy được mặt tích cực của từng phương pháp. Năng lực tự học 1. Khái niệm tự học Theo tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 đã đưa ra khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế 12 hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”. Như vậy, có thể nói tự học là quá trình học sinh tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình nhằm hướng tới những mục đích nhất định. Hay cũng có thể định nghĩa tự học là hoạt động tự lực của HS để chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình và SGK. Các hình thức tự học - Tự học hoàn toàn không có sự hỗ trợ của GV: Đây là hình thức HS tự học thông qua các tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác… Với hình thức này HS gặp nhiều khó khăn trong việc thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình, ngoài ra do thiếu sự hỗ trợ và định hướng của GV nên quá trình này dễ tạo ra những lỗ hổng kiến thức mà bản thân HS không thể nào điều chỉnh được.
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: Đây là hình thức HS tự học trong một giai đoạn nào đó của quá trình học tập, thông thường là ở khâu vận dụng kiến thức. Với hình thức này người GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập của HS. - Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): Đây là hình thức tự học mà HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn. Với hình thức tự học này, HS gặp nhiều khó khăn là không đánh giá được kết quả học tập của mình, cũng như thiếu sự hỗ trợ của GV khi HS gặp các vấn đề khúc mắc trong bài học.
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Đây là hình thức HS sử dụng tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính). Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn tương tự như nhiều hình thức khác là không thể trao đổi với GV khi gặp những trở ngại về mặt kiến thức cũng như phương pháp luận của bài học. - Tự học với sự hướng dẫn của GV: Đây là hình thức tự học với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương tiện học tập như tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,. Với hình thức này, GV thu 13 nhận thông tin phản hồi về kết quả học tập của HS sau quá trình tự học và giúp đỡ điều chỉnh nhịp độ học tập của HS khi cần thiết.
Vai trò của tự học Tự học được coi là phương châm cơ bản, là mục tiêu chiến lược của giáo dục Việt Nam nhằm hướng đến xây dựng một xã hội học tập. Chính vì vậy, tự học có vai trò quan trọng trong giai đoạn bùng nổ thông tin hiện nay. - Tự học có vai trò quan trọng trong việc tiếp thu kiến thức, nâng cao chất lượng học tập Khi tham gia vào quá trình tự học, người học phải tự hoàn thiện và làm phong phú thêm vốn tri thức bằng sự nỗ lực tự học, tự nghiên cứu của bản thân. Thông qua các hoạt động này, người học sẽ rèn luyện được khả năng tư duy, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bản chất của các vấn đề học tập.
- Tự học góp phần giáo dục, hình thành nhân cách cho HS Hoạt động tự học sẽ giúp HS rèn luyện thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong học tập cũng như trong công việc. Bên cạnh đó, tự học thúc đẩy sự ham hiểu biết, ham học hỏi và khát khao vươn tới đỉnh cao khoa học của HS, giúp HS sống có hoài bão, ước mơ. - Tự học có vai trò to lớn trong sự thành công của mỗi người Xã hội ngày càng phát triển kéo theo là sự ra đời của các phát kiến vĩ đại, con người đứng trước thách thức phải hoàn thiện bản thân để có thể áp dụng được các thành tựu của khoa học, kỹ thuật tiên tiến vào trong cuộc sống, cũng như trong công việc. Nếu có kĩ năng tự học tốt thì người học sẽ tận dụng được những thành tựu đó phục vụ cho lợi ích của xã hội nói chung và bản thân mỗi người nói riêng.
Chính vì vậy, tự học có vai trò quan trọng trong sự thành công của mỗi người. Chu trình tự học của học sinh Chu trình tự học có thể diễn ra theo 4 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Tự tìm tòi, phát hiện Thông qua các hoạt động tìm tòi, quan sát và mô tả, người học phát hiện vấn đề. - Giai đoạn 2: Tự tìm ra kiến thức Từ vấn đề phát hiện ở giai đoạn 1, người học sẽ có các định hướng giải quyết vấn đề và tìm ra kiến thức mới (kiến thức mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu của cá nhân người học - Giai đoạn 3: Tự thể hiện 14 Thông qua quá trình tự học, hợp tác, trao đổi với bạn học và GV, người học tạo ra sản phẩm mang tính xã hội của cộng đồng lớp học. - Giai đoạn 4: Tự kiểm tra, điều chỉnh Sau quá trình trao đổi với bạn học và GV để thống nhất tạo ra sản phẩm mang tính xã hội, người học tự kiểm tra, đánh giá sản phẩm ban đầu của mình và tự sửa sai, điều chỉnh cho phù hợp.
Năng lực tự học của HS THPT 1. Khái niệm năng lực tự học Hoạt động tự học muốn diễn ra thực sự thì có một yêu cầu đặt ra là: cần phải hình thành được ở người học năng lực tự học. Chỉ khi đã có được năng lực tự học trong bản thân mình, người học mới tự mình tiến hành việc học tập một cách tự chủ, độc lập, sáng tạo như đòi hỏi của giáo dục đào tạo ngày nay. Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt được kết quả.
Năng lực cũng là một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị khả năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó. Như vậy, có thể nói năng lực là sự kết hợp linh hoạt, độc đáo của nhiều đặc điểm tâm lí, tạo thành những điều kiện chủ quan thuận lợi, giúp cá nhân tiếp thu dễ dàng, tập dượt nhanh chóng và hoạt động hiệu quả trong một lĩnh vực nào đó. Năng lực tự học là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả hành động cùng các động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.