Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG O TRUONG TIEU HOC 1. Téng quan về nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước. Khái niệm * ăn hoá tổ chức” xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960 và chính thức trở thành khái niệm trong khoa học tổ chức- quản lý, xuất hiện ở Âu Mỹ từ những năm 80 của thế kỷ XX, hiện nay là một khái niệm thịnh hành và phổ biến rộng rãi.
Thuật ngữ tương đương “Văn hóa công ty” (eorporate culture) xuất hiện muộn hơn, khoảng thập niên 1970 và trở nên hết sức phổ biến khi tác phẩm “Văn hóa công ty” của Terrence Deal và Atlan Kennedy được xuất án tại Mỹ năm 1982. [29] Theo tác giá Purkey và Smith (1982), thì văn hóa nhà trường được xem như. một kết cấu, một quá trình, không gian của các giá trị và chuân mực là chất lượng. dạy và học của giáo viên, học sinh và cán bộ nhân viên.Tác giả đã nhắn mạnh đến yếu tổ giá tri và chuẩn mực trong VHNT.
Tác giả cũng nêu rõ vai trò định hướng và điều chỉnh các hoạt động của người dạy và người học, của các cán bộ nhân viên của nhà trường. [30] Với tác giả DewiD và nhóm cộng sự của mình (2003), đã tìm hiểu văn hóa nhà trường từ góc độ vai trò của VNHT đối với kết quả học tập và hành vi của học sinh. Các tác giả này đã phân tích cũng về sự tác động, ảnh hưởng của văn hóa nhà trường đến kết quả học tập và hành vi của học sinh. VHNT như là cơ sở, chuẩn mực để học sinh học tập và hành động.
Mọi nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh đều lấy VHNT đề quy chiếu [31]. Thuật ngữ *Văn hoá nhà trường” hay “Van hod học đường” là một khái niệm mới xuất hiện trong ba mươi năm gần đây. Nội dung của ăn hoá học đường” bao hàm nội dung của *Trường học thân thiện" do Quỹ Nhỉ đồng Liên Hợp Quốc ({UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX. [6] Theo Susan Jonson (1990), trong nghién ciru của mình tác giả đã chỉ ra những yếu tố cơ bản để tạo nên văn hoá nhà trường.
Trong đó, tác giả đã chú trọng đến yếu tố đề tạo nên văn hóa hợp tác gồm có: Những mối quan hệ đề phát triển chuyên nghiệp. hơn, có sự hợp tác, hình thành các nhóm tham khảo ý kiến trước khi hành động, có kế hoạch được sắp xếp chuẩn bị. Nhà quản lý là những người mả có thê đem đến sự động. viên, khuyến khích hỗ trợ và giúp đỡ; chia sẻ; và phối hợp trong công việc.
+ Cảm nhận về tính hiệu quả công việc của giáo viên. Trong đó, giáo viên thường cùng nhau hướng tới sự cải tiến trong việc học của học sinh. + Những chuân mực, niềm tin, giá trị và các giả định cơ bản được củng cố và hỗ trợ làm cho các hoạt động trong nhà trường trở nên chuyên nghiệp hơn [34] Theo UNESCO: VH (theo nghĩa rộng) là một phức thể, tổng thể các đặc trưng. diện mạo về tinh than, vat chat, trí tuệ, tình cảm khắc họa lên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, xã hội.
*Văn hóa có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tỉnh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách một xã hội hay một nhóm người trong xã hội”. Những nghiên cứu trong nước. Thuật ngữ *Văn hoá nhà trường” là một khái niệm được để cập ngày cảng nhiều trong các diễn đàn cũng như các hội thảo. Nhưng thực ra bản chất và nội dung.
'VHNT đã được các nhà trường ở Việt Nam từ xa xưa xây dựng và trở thành các truyền thống quý báu của dân tộc ta như “Tôn sư trọng đạo”, “Kính thầy yêu bạn”, * Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Trong quá trình xây dựng và phát triển, VHNT biều hiện trong mọi phương diện QL, trong các hoạt động dạy học cũng như trong mọi hành vi ứng xử của các thành viên trong nhà trường tạo nên sự khác biệt, mang dau ấn riêng của mỗi nhà trường. Theo tác giả Thái Duy Tuyên, thì các thành tố cầu thành VHNT gồm: Hệ thống giá trị, niềm tin, hoài bão, lý tưởng mà thầy trỏ ấp ủ và thực hiện. thì cho rằng: VHNT gồm các thành tố căn bản sau: Các yếu tố văn hóa mang giá trị hữu hình; Yếu tố văn hóa mang giá trị định hướng.
trách nhiệm; Yếu tố văn hóa giá trị hạt nhân cốt lõi. Yếu tố hữu hình là vị trí địa lý, kiến trúc, cơ sở hạ tầng, công nghệ, phòng thí nghiệm, ký túc xá sinh viên, tic phim nghệ thuật, biểu tượng, trang phục. Yếu tố giá trị định hướng gồm: chiến lược, mục. tiêu, triết lý đảo tạo được hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường.
Cũng theo tác giả thì văn hóa tổ chức của nhà trường còn được xây dựng theo lối tiếp cận giao tiếp đa chiều thông tin "từ trên xuống” hoặc “từ dưới lên”. Hành vi của từng thành viên đều có tác động củng có hay phá hoại văn hóa của tổ chức, nhưng hành vi của người lãnh đạo thì có một tác động đặc biệt lớn. Cũng từ góc độ tô chức đẻ nghiên cứu VHNT, tác gia bai viết *Văn hóa tổ chức trong nhà trường và phương hướng xây dựng” khẳng định rằng: Xây dựng văn hóa tổ chức trong nhà trường là vấn đề rất có ý nghĩa, nhất là trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện nhả trường hiện nay. [14] Tác giả Phạm Minh Hạc (1991), đã công bố cuốn sách “Giáo dục Việt Nam.
trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI”. Trong cuốn sách này tác giả đã phân tích sâu về giáo dục nếp sống văn hóa cho sinh viên trong học tập, sinh hoạt, văn hóa, tiêu dùng. và trong ứng xử [10]. Theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Quản lý Giáo dục Việt Nam đã hợp tác với Học Viện Giáo dục Singapore tô chức chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông theo hình thức liên kết Việt Nam- Singapore giai đoạn 2008- 2010.
Nội dung chương trình có 7 chuyên đẻ, trong đó có chuyên đề 3 *Văn hoá nhà trường” được rất nhiều nhà lãnh đạo đánh giá cao về tầm quan trọng của VHNT và được coi là một trong những yếu tố hàng đầu làm nên sự thành công trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. 'Nhìn chung những đề tài khoa học ở trên đã đi vào nghiên cứu VH nói chung. và VHNT nói riêng đã thấy rõ đặc điểm và ảnh hưởng của công tác xây dựng 'VHNT đến chất lượng và hiệu quả giáo dục trong nhà trường. Tuy nhiên ở khía canh đưa ra những biện pháp cụ thể cho quá trình xây dựng VHNT tại các trường.
tiểu học thì chưa được đề cập. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Khái niệm về văn hoá và văn hoá nhà trường 1. Khái niệm về văn hoá ‘Theo UNESCO (2002) cho ring: Van hóa là tổ hợp các đặc điểm tỉnh thần, vật chat, trí tuệ, tình cảm nỗi bật của xã hội hay nhóm xã hội, bao hàm cả nghệ thuật, văn học, lỗi sống, cùng với đường đời, hệ giá trị, truyền thống và niễm tỉn.
UNESCO cũng đưa ra khái niệm rất khái quát về văn hóa: Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh than. [33] Tác giả Trần Ngọc Thêm thì cho rằng: Văn hoá là một bộ phận không thể tách rời của cuộc sống và nhận thức của các cá nhân và cộng đồng. Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỉ, các hoạt động ấy đã hình thành nên một hệ giá trị, các truyền thống và các thị hiểu- những yếu tổ xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [24].
Nghị quyết Trung ương Š — Khéa VIII, Dang ta khẳng định: VH Việt Nam là tổng. thể những giá trị vật chất và tỉnh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra, trong quá trình dựng nước và giữ nước. là kết quả giao lưu và tiếp thu tỉnh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. VH Việt Nam đã hun đúc nên tâm hỗn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quan áo, các phương tign, v. Cả hai khía cạnh cần thiết đẻ làm ra sản phâm và đó là một phần của văn hóa. Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quân áo, các phương tiện, v. Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.
Văn hóa tỉnh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật chất là những ý niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn mực,. tạo nên một hệ thống. Hệ thống 10 đó bị chỉ phối bởi trình độ của các giá trị, đôi khi có thể phân biệt một giá trị bản chất. Chính giá trị này mang lại cho văn hóa sự thống nhất và khả năng tiến hóa nội tại của nó.
Ngoài các yếu té phi vật chất như giá trị, tiêu chuẩn,. gồm tắt cả những sáng tạo hữu hình của con người mà trong xã hi lọc gọi chung là đồ tạo tác. Những con đường, tòa cao ốc, đền đải, phương tiện giao thông, máy móc u là đồ tạo tác. Văn hóa vật chất và phi vật chất liên quan chặt chẽ với \y văn hóa vật chất phản ánh những giá trị văn hóa mà nền văn hóa đó coi là quan trọng.
Ở các nước Hồi giáo, công trình kiến trúc đẹp nhất và hoành tráng nhất thường là thánh đường trong khi ở Mỹ, nó lại là trung tâm thương mại. Văn hóa vật chất còn phản ánh công nghệ hiểu theo khái niệm xã hội học là sự 4p dụng kiến thức văn hóa vào sinh hoạt trong môi trường tự. Tháp Eiffel phản ánh công nghệ cao hơn tháp truyền hình Hà ội. Ngược lại, văn hóa vật chất cũng làm thay đôi những thành phần văn hóa phi vật chất.
Tuy vậy, các yếu tổ văn hóa không phải đều thay đổi ở cùng một mức độ, mặc.