mở đầu bằng phụ âm,VD: hà, loan - Nặng: Có đầy đủ các bộ phận cấu thành âm tiết, VD: toán, quyên Âm tiết trong tiếng Việt luôn có mặt phụ âm đầu. Với những âm tiết mang âm tắc thanh hầu thì không được thể hiện chữ viết. Âm đệm là yếu tố đứng ở vị trí thứ hai, sau âm đầu và tạo nên sự tròn môi (loan) hay không tròn môi( lan) của âm tiết. Trong tiếng Việt, âm đệm được miêu tả gồm âm vị bán nguyên âm /u/ và âm vị zero (âm vị trống).
Âm đệm zero có thể tồn tại cùng tất cả các âm đầu. Âm đệm /u/ không được phân bố trong trường hợp sau: - Nếu âm tiết có phụ âm đầu là âm môi. - Nếu âm tiết có nguyên âm là âm tròn môi. Âm chính đứng ở vị trí thứ ba trong âm tiết, là hạt nhân mang đỉng của âm tiết mang âm sắc chủ yếu của âm tiết.
Âm chính trong tiết Việt do nguyên âm đảm 15 nhiệm có chức năng làm âm chính nên luôn mang thanh điệu kế cả khi đứng một mình (à, ừ). Âm chính nằm ở vị trí thứ ba của âm tiết cầu tạo bởi các nguyên âm, có chức năng quan trọng mang màu sắc chủ yếu của âm tiết nên âm chính luôn mang thanh điệu. Âm cuối nằm ở vị trí cuối cùng của âm tiết, nó có chức năng kết thúc một âm tiết, thể hiện độ đóng hay mở khi phát âm âm tiết đó. Cụ thể như sau : - Mở : không có thành phần kết thúc VD: na, kha, me - Hơi mở : kết thúc bằng các bán âm /1/ và /u/ ; VD: sao, rau, tai, -_ Hơi đóng: kết thúc bằng các phụ âm mũi /m/, /n/, /ng/ VD: mắm, mang, -_ Đóng _ : kết thúc bằng các phụ âm tắt /p/, //,/k/ VD: sắp, tắt, khắp Thanh điệu là độ trầm, bỗng của giọng nói trong một âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanh của từ và hình vị.
Hệ thống thanh điệu tiếng Việt gồm 6 thanh: thanh ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng. Có thể phân dựa vào hai tiêu chí cao độ và âm điệu dé phân loại thanh điệu. - Tiêu chí cao độ: Thanh điệu tiếng Việt đối lập nhau ở hai cao độ cơ bản: cao độ cao và cao độ thấp. Theo tiêu chí này ta phân biệt: + Thanh điệu cao, tức là những thanh điệu được phát âm ở âm vực cao.
Loại này bao gồm các thanh: thanh ngang, thanh sắc, thanh ngã. + Thanh điệu thấp, tức là những thanh điệu được phát âm ở âm vực thấp. Đó là các thanh: thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng. - Tiêu chí âm điệu: Trên mỗi âm vực, các thanh điệu còn khác nhau về quá trình diễn biến của cao độ theo thời gian.
Đó là sự khác nhau về đường nét âm điệu. Theo tiêu chí này, ta phân biệt: + Thanh điệu bằng phẳng hay còn gọi là thanh bằng, đây là những thanh điệu thé hiện diễn biến bằng phẳng của đường nét âm điệu, khi phát âm các thanh này có xu hướng đồng đều từ đầu đến cuối mà không có sự lên xuống bất thường. Các thanh thuộc nhóm thanh bằng là: thanh ngang và thanh huyền. + Thanh điệu không bằng phẳng hay còn gọi là thanh trắc, đây là những thanh điệu có diễn biến âm điệu phức tạp, khi phát âm các thanh này có xu hướng lúc lên lúc xuống, thê hiện bằng một đường nét không bằng phẳng.
Các thanh thuộc nhóm thanh trắc là: thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng. 16 b) Bộ phận cấu âm Âm thanh của ngôn ngữ do bộ máy phát âm của con người cùng với hoạt động của nó tạo nên. Bộ máy phát âm là những bộ phận của cơ thể được đùng với chức năng thứ hai là tạo ra các âm thanh của ngôn ngữ. Bộ máy phát âm gồm có các bộ phận: cơ quan hô hấp, thanh hầu và các khoang (mũi, miệng, yết hầu.) - Cơ quan hô hấp (initiator): gồm có phối, hai lá phối và khí quản.
Hai lá phổi là nơi chứa nguồn năng lượng không khí (hơi) cần thiết cho sự phát âm. Cơ sở để tạo nên âm thanh của cơ quan này là luồng không khí từ phổi đi ra, cùng với sự điều khiển của thần kinh làm dây thanh rung động (mở ra, khép vào), tiếp đến nó cọ xát vào các bộ phận phát âm ở khoang miệng và mũi tạo nên âm thhanh. - Thanh hau (larynx): được cấu tạo là một ống rỗng gồm bốn mảnh sun ghép lại. Đó là cơ quan phát ra âm thanh.
Giữa thanh hầu có hai tổ chức cơ (màng mỏng) nằm sóng đôi có thể rung động, mở ra hay khép vào. Tùy thuộc vào luồng hơi phát ra sẽ làm cho hai tổ chức cơ này rung động, mở ra hay khép vào, căng lên hay chùng xuống. Luồng hơi từ phổi đi ra tạo nên những rung động ở dây thanh tạo thành âm thanh. - Dây thanh (vocal cords): Khi dây thanh khép lại đến mức có một khe hở hẹp giữa chúng thì áp lực của luồng hơi sẽ làm cho đây thanh rung, tức là chúng mở hé ra rồi khép lại và tiếp tục như vậy tạo thành từng đợt luồng hơi từ phổi ra ngoài, cách nhau đều đặn và tạo nên sóng âm.
Những âm được tạo ra như vậy được gọi là âm hữu thanh. Độ cao của âm phụ thuộc vào tốc độ rung của dây thanh; tốc độ rung lại do độ đài của dây thanh quy định. Khi không phát âm thì luồng hơi thoát qua thanh môn tự do và tạo ra một âm yếu ớt. Trong ngữ âm học, âm này được kí hiệu là /h/.
Khi phát âm, nếu đây thanh không rung thì kết quả sẽ cho một âm được gọi là âm vô thanh. - Các khoang: là các khoảng rỗng ở cỗ họng, ở miệng và mũi. Khoang họng (thanh hầu) trải dàn từ nắp họng đến sau khoang mũi và chức năng của nó giống như cái hộp chứa hơi; hơi này có thể rung động hòa theo sự rung động của dây thanh. Khoang miệng cùng với các bộ phận như: môi, răng, lơi, ngạc cứng, ngạc mềm, lưỡi, nắp họng tạo hình đáng và thể tích khoang miệng khác nhau và tạo nên các hộp (khoang) cộng hưởng khác nhau, từ đó thu nhận được các âm thanh khác 17 nhau.
Nếu không có các khoang này thì âm thanh phát ra sẽ rất nhỏ. Khi phát âm, luồng hơi đi ra bằng mũi và khoang mũi trở thành hộp cộng hưởng để tạo nên các âm mũi. Có thê hình dung bộ máy phát âm của con người bằng sơ đồ sau đây: Hình 1. Sơ đồ bỗ dọc của bộ máy phát âm Hình 2.
Cấu tạo của bộ phận cấu âm e) Yếu tổ phương ngữ Ngôn ngữ bắt nguồn từ đời sống và phản ánh cuộc sống của từng địa phương. Mỗi địa phương khác nhau có nền kinh tế khác nhau dẫn đến nền văn hóa của mỗi nơi cũng khác nhau. Ở Việt Nam có ba vùng phương ngữ chính là: phương ngữ Bắc (Bắc Bộ), phương ngữ Trung (Bắc Trung Bộ), phương ngữ Nam (Nam Trung Bộ và Nam Bộ). Các phương ngữ này khác nhau chủ yếu ở ngữ âm rồi đến từ vựng cuối cùng là một chút khác biệt về cách sử dụng từ.
*Phuwong ngit Bac Phương ngữ Bắc có trung tâm là tiếng Hà Nội, là địa phương có tiếng nói gần với “chuẩn chính tả” nhất. Ưu điểm thấy rõ của phương ngữ này là nói đủ sáu thanh điệu và phần vần phong phú hơn các phương ngữ khác. Tuy nhiên người dân tại địa phương này vẫn thường mắc một số lỗi phát âm sau: - Không phân biệt s⁄4 ; r/d/gi ; ch/fr + sẻ (chim sẻ) - xẻ (xẻ đôi); sấu (quả sấu) - xấu (xấu xi),. 18 - Không phân biệt, nhằm lẫn giữa Ï và n + non (non sông) - lon (lon nước uống); na (quả na) — la (la hét) ; nên (nên làm) - lên (lên xuống),.
Để sửa những lỗi sai này GV cần phải có ý thức về sự đúng/sai để tự rèn luyện: tự học, tự ghi nhớ đối với ngôn ngữ nói lẫn ngôn ngữ viết. Luyện phát âm thường xuyên. Gặp bất kỳ trường hợp nào không chắc chắn cách phát âm cần phải tra từ điển để hiểu đúng cách đọc cũng như cách viết từ đó. *Phương ngữ Trung Nhìn chung với phương ngữ này, người phát âm thường mắc lỗi sai ở thanh điệu và một số vần.
Về thanh điệu đa phần người dân vùng này thường bị nhằm lẫn giữa thanh hdi và /hanh ngã: Nghệ An - Hà Tĩnh thường lẫn thanh ngã thành thanh nặng, còn ở các địa phương còn thì thường lẫn anh hỏi với thanh ngã. Đặc điểm chung của toàn khu vực này là sự "xô dồn" từ hanh ngã sang thanh hỏi, thanh ngã sang thanh nặng. VD: nước lã => nước lả ; bã trầu => bả trầu ; tất cả => tất cã GV chú ý sửa phát âm cho HS trong các giờ tập đọc, luyện đọc. Chỉ ra sự khác biệt về cao độ giữa các dấu thanh dé học sinh nhận biết và sửa lại cho đúng.
Một số lỗi sai về vần nguyên nhân chủ yếu là do khi phát âm nguyên âm đôi bị đơn hóa, các yếu tố thứ hai trong nguyên âm đôi bị triệt tiêu, yếu tố đầu có kéo đài hơn bình thường. VD: + uô => u: cuống => cúng ; buông tay => bung tay,. * uo => u: hướng - hứng, tương - tưng, trường - trừng,. Cách sửa lỗi sai về phần vần cũng tương ứng cách sửa lỗi sai về âm.
HS luyện đọc sách, nghe đài, luyện nói và viết, nghe và nhớ theo lời bài hát. HS có thể chơi trò chơi đố chữ theo các bài tập GV đã chuẩn bị. *Phương ngữ Nam Vùng phương ngữ Nam có vị trí địa lý kéo dài từ Đà Nẵng đến mũi Cà Mau. Phương ngữ Nam Trung Bộ là khu vực phương ngữ chuyên tiếp từ Bắc Trung Bộ vào Nam.
Chuan chính âm của vùng này dựa trên cách phát âm của đài phát thanh truyền hình Sài Gòn. 19 - Mỗi số lỗi về phát âm thường mắc của phương ngữ này vẫn là về sự phân biệt giữa thanh ngã và thanh hỏi. VD: ngã — ngả, hả - hã, chà - chã. - Về phụ âm đầu: Phụ âm /h/, /c/ bị thay bằng /w/.
VD: văn hóa — văng woá, tổ quốc — té wok,. - Âm đệm /_u-/ bị biến mất: VD luật — lục, toàn — tàu, nuốt — núc,. - Về phần vần: + Đồng nhất các vần: —in, ức — -inh, -ích. VD: quả mít — quả mức, chật ních — chật nức, thịt —› thịch,.
+ Các vần —un, -út — —ung, —tic. VD: bún — búng, cùn —› cùng, nút —› núc, bùn — bùng, .