Xây dựng và áp dụng phương cách xét nghiệm hiv bộ mẫu ngoại kiểm để nâng cao chất lượng hệ thống phòng xét nghiệm hiv ở việt nam

Nghiên cứu xây dựng và áp dụng phương pháp xét nghiệm HIV cùng bộ mẫu ngoại kiểm, giúp nâng cao chất lượng hệ thống phòng xét nghiệm HIV tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Mô phôi và tế bào học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

177
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẠI CƯƠNG VỀ HIV

1.1. Đặc điểm virus HIV

1.2. Cấu trúc của HIV

1.3. Bộ gen của virus

1.4. Vòng đời của virus HIV

1.5. Các giai đoạn tiến triển của nhiễm HIV

1.6. Tình hình nhiễm HIV trên thế giới và tại Việt Nam

2. XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN NHIỄM HIV

2.1. Biến đổi các thông số và miễn dịch của cơ thể trong nhiễm HIV

2.2. Các kỹ thuật xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV

2.3. Chiến lược xét nghiệm HIV

2.4. Phương cách xét nghiệm HIV

3. ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG TRONG XÉT NGHIỆM HIV

3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng xét nghiệm

3.2. Các biện pháp nhằm đảm bảo chất lượng xét nghiệm

3.2.1. Chương trình ngoại kiểm

4. THỰC TRẠNG XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN HIV TẠI VIỆT NAM

4.1. Tổ chức hệ thống phòng xét nghiệm HIV

4.2. Thực trạng công tác xét nghiệm chẩn đoán HIV tại Việt Nam

4.3. Thực trạng công tác đảm bảo chất lượng xét nghiệm tại Việt Nam

4.4. Một số tồn tại của công tác đảm bảo chất lượng xét nghiệm HIV

5. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

5.2. Phương pháp nghiên cứu

6. ĐÁNH GIÁ ÁP DỤNG PHƯƠNG CÁCH XÉT NGHIỆM THÔNG QUA CHƯƠNG TRÌNH NGOẠI KIỂM

6.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

6.2. Phương pháp nghiên cứu

7. XÂY DỰNG QUY TRÌNH VÀ SẢN XUẤT MẪU NGOẠI KIỂM HIV SỬ DỤNG MẪU MÁU TOÀN PHẦN

7.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

7.2. Phương pháp nghiên cứu

8. TRANG THIẾT BỊ, HÓA CHẤT VÀ DỤNG CỤ

9. CÁC KỸ THUẬT PHÒNG XÉT NGHIỆM SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU

9.1. Các kỹ thuật xét nghiệm dùng cho chẩn đoán HIV

9.2. Đánh giá các đặc tính của phương cách xét nghiệm

9.3. Các phương pháp sử dụng cho sản xuất mẫu ngoại kiểm

10. QUẢN LÝ, XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

11. ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG XÉT NGHIỆM

12. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

13. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

13.1. XÂY DỰNG PHƯƠNG CÁCH XÉT NGHIỆM HIV QUỐC GIA

13.1.1. Thử nghiệm xét nghiệm HIV bằng phương cách gồm các sinh phẩm nhanh

13.1.2. Đặc điểm huyết thanh học HIV của các mẫu thu thập

13.1.3. Độ nhạy, độ đặc hiệu của sinh phẩm khi XN tại tỉnh và Viện VSDT TƯ

13.1.4. Thông tin chung về các mẫu tham gia

13.1.5. Tỷ lệ dương tính và dương tính giả ở các nhóm đối tượng

13.1.6. KQXN tham chiếu cho mẫu dương tính giả với một sinh phẩm

13.1.7. KQXN tham chiếu cho mẫu dương tính giả với từ hai sinh phẩm

13.1.8. KQXN mẫu khó được thu thập tại Viện VSDTTƯ

13.1.9. Tính khả thi việc sử dụng PCXN có ba sinh phẩm nhanh trên thực địa

13.1.10. Phương cách xét nghiệm chẩn đoán HIV quốc gia

13.1.11. Phạm vi và cách thức áp dụng các phương cách

13.2. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG PHÒNG XÉT NGHIỆM HIV ÁP DỤNG PHƯƠNG CÁCH XÉT NGHIỆM THÔNG QUA BỘ MẪU NGOẠI KIỂM HUYẾT THANH HỌC

13.2.1. Tỷ lệ đơn vị phản hồi kết quả ngoại kiểm

13.2.2. Xét nghiệm sai phân theo khối bệnh viện và khối y học dự phòng

13.2.3. Thực trạng sử dụng sinh phẩm

13.2.4. Sử dụng sinh phẩm không có trong danh mục khuyến cáo của Bộ y tế

13.2.5. Thực tế áp dụng phương cách xét nghiệm tại các đơn vị

13.3. XÂY DỰNG QUY TRÌNH SẢN XUẤT BỘ MẪU NGOẠI KIỂM BẰNG MẪU MÁU TOÀN PHẦN

13.3.1. Xác định đặc tính mẫu chuẩn

13.3.2. Đánh giá độ đồng nhất của mẫu

13.3.3. Đánh giá độ ổn định về đặc tính mẫu

13.3.4. Đánh giá độ tán huyết

13.3.5. Đánh giá độ vô khuẩn

13.3.6. Đánh giá chất lượng bộ mẫu

13.3.7. Sơ đồ quy trình sản xuất mẫu ngoại kiểm sử dụng máu toàn phần

13.3.8. Triển khai thử nghiệm chương trình ngoại kiểm máu toàn phần

14. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Xét Nghiệm HIV Tầm Quan Trọng Thực Trạng

Từ khi được phát hiện vào năm 1981, dịch HIV/AIDS đã nhanh chóng lan rộng toàn cầu, trở thành đại dịch nguy hiểm. Tại Việt Nam, dịch đã xuất hiện ở cả 63 tỉnh thành. Hệ thống phòng xét nghiệm HIV ngày càng phát triển, từ phòng thí nghiệm đầu tiên năm 1988 đến nay đã có 1.345 phòng. Độ chính xác của xét nghiệm HIV là vô cùng quan trọng. Mẫu bệnh phẩm phải trải qua nhiều khâu, mỗi khâu đều tiềm ẩn sai sót. Bộ Y tế Việt Nam đã nỗ lực cải thiện chất lượng, xây dựng văn bản pháp quy, cập nhật hướng dẫn theo xu hướng thế giới. Việt Nam thực hiện xét nghiệm HIV theo 3 chiến lược của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

1.1. Tình hình nhiễm HIV AIDS trên thế giới và tại Việt Nam

Dịch HIV/AIDS là một trong những đại dịch nguy hiểm nhất thế giới. Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề, với dịch bệnh lan rộng khắp các tỉnh thành. Theo báo cáo của Bộ Y tế, Việt Nam ước tính có khoảng 250.000 người nhiễm HIV, với số phát hiện được đến 31/12/2019 là 211.981 trường hợp. Việc kiểm soát và phòng chống HIV/AIDS đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng từ cộng đồng và các tổ chức y tế. "Tại hội nghị AIDS toàn cầu tháng 7 năm 2014, Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) đã đưa ra ba mục tiêu 90-90-90 đến năm 2020" hướng đến kiểm soát dịch bệnh.

1.2. Thực trạng hệ thống phòng xét nghiệm HIV tại Việt Nam

Hệ thống phòng xét nghiệm HIV tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, với số lượng phòng xét nghiệm tăng đáng kể. Tuy nhiên, sự phát triển này đi kèm với những thách thức về chất lượng và đảm bảo độ chính xác của kết quả. Theo tài liệu gốc, "từ phòng thí nghiệm (PTN) HIV đầu tiên năm 1988, hiện nay cả nước có 1.345 phòng xét nghiệm (PXN)". Việc duy trì và nâng cao chất lượng xét nghiệm là yếu tố then chốt để đạt được các mục tiêu phòng chống HIV/AIDS quốc gia.

II. Vấn Đề Sai Sót Trong Xét Nghiệm HIV Ảnh Hưởng Thế Nào

Độ chính xác và đáng tin cậy của xét nghiệm HIV là vấn đề quan trọng hàng đầu. Mẫu bệnh phẩm trải qua nhiều khâu, mỗi khâu đều có thể xảy ra sai sót. Thời gian đầu, các phòng xét nghiệm khẳng định HIV thường không đánh giá xem các sinh phẩm có đồng dương tính giả hay không, dẫn đến thời gian trả kết quả lâu và mất dấu khách hàng. Việc này ảnh hưởng đến việc kết nối người nhiễm với điều trị. Để hạn chế sai sót, WHO khuyến cáo các nước triển khai đánh giá phương cách xét nghiệm, lựa chọn sinh phẩm tốt để tăng cường chất lượng chẩn đoán.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng xét nghiệm HIV

Chất lượng xét nghiệm HIV chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, từ quy trình lấy mẫu, bảo quản mẫu, thực hiện xét nghiệm, đến đánh giá và báo cáo kết quả. Theo tài liệu gốc, "mẫu bệnh phẩm từ khi thu thập đến khi trả kết quả cho khách hàng phải trải qua nhiều khâu, trong mỗi khâu đều có thể có sai sót". Việc kiểm soát chặt chẽ các yếu tố này là cần thiết để đảm bảo kết quả xét nghiệm chính xác và tin cậy.

2.2. Tồn tại trong công tác đảm bảo chất lượng xét nghiệm HIV

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, công tác đảm bảo chất lượng xét nghiệm HIV vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Các phòng xét nghiệm khẳng định HIV thời gian đầu thường không đánh giá xem sinh phẩm có đồng dương tính giả không. Theo tài liệu, "thời gian đầu, phòng xét nghiệm khẳng định HIV thực hiện theo chiến lược III và sử dụng các sinh phẩm miễn dịch đánh dấu để khẳng định và không có đánh giá xem các sinh phẩm có đồng dương tính giả không." Điều này dẫn đến thời gian trả kết quả kéo dài và ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

III. Xây Dựng Phương Cách Xét Nghiệm HIV Hướng Dẫn Chi Tiết

WHO khuyến cáo các nước cần triển khai đánh giá phương cách xét nghiệm nhằm lựa chọn các sinh phẩm tốt phối hợp với nhau để tăng cường chất lượng chẩn đoán và hiệu quả giá thành. Việc sử dụng phương cách xét nghiệm gồm các sinh phẩm nhanh giúp tăng cường tiếp cận xét nghiệm HIV, rút ngắn thời gian trả kết quả, tăng tỷ lệ nhận kết quả xét nghiệm. Người nhiễm sẽ sớm được tiếp cận điều trị ARV, góp phần phòng chống lây nhiễm HIV hiệu quả hơn. Bộ Y tế đã giao cho Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (VSDTTƯ) thực hiện đánh giá phương cách xét nghiệm HIV.

3.1. Tiêu chí lựa chọn sinh phẩm cho phương pháp xét nghiệm HIV

Việc lựa chọn sinh phẩm cho phương pháp xét nghiệm HIV cần dựa trên nhiều tiêu chí, bao gồm độ nhạy, độ đặc hiệu, tính ổn định, dễ sử dụng và giá thành. Theo tài liệu gốc, việc "lựa chọn ra các sinh phẩm tốt phối hợp với nhau trong phương cách xét nghiệm để tăng cường chất lượng chẩn đoán và hiệu quả giá thành" là mục tiêu quan trọng. Các sinh phẩm cần đảm bảo chất lượng và phù hợp với điều kiện thực tế của từng phòng xét nghiệm.

3.2. Các bước xây dựng phương cách xét nghiệm HIV hiệu quả

Xây dựng phương cách xét nghiệm HIV hiệu quả bao gồm nhiều bước, từ khảo sát thực tế, lựa chọn sinh phẩm, xây dựng quy trình, đến đánh giá và tối ưu hóa. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên gia, phòng xét nghiệm và cơ quan quản lý. Theo tài liệu, "Bộ Y tế đã giao cho Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (VSDTTƯ)... thực hiện đánh giá phương cách xét nghiệm HIV." Việc đánh giá cần đảm bảo tính khách quan và khoa học để đưa ra quyết định phù hợp.

3.3. Phương pháp xét nghiệm HIV nhanh và vai trò trong cộng đồng

Phương pháp xét nghiệm HIV nhanh đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ xét nghiệm đến cộng đồng, đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa hoặc những đối tượng khó tiếp cận. Phương pháp này cho phép có kết quả nhanh chóng, giúp người được xét nghiệm sớm biết tình trạng nhiễm HIV của mình và được kết nối với các dịch vụ chăm sóc và điều trị kịp thời. Việc sử dụng phương pháp xét nghiệm nhanh cần đi kèm với việc đảm bảo chất lượng và tư vấn đầy đủ cho người được xét nghiệm.

IV. Bộ Mẫu Ngoại Kiểm HIV Công Cụ Đảm Bảo Chất Lượng Hiệu Quả

Để đảm bảo chất lượng cho các phòng xét nghiệm khi mở rộng ra các tuyến huyện, xã, xét nghiệm di động…, việc lựa chọn phương cách xét nghiệm chẩn đoán phù hợp và chương trình ngoại kiểm nhằm đánh giá chất lượng là rất quan trọng. Hiện tại, bộ mẫu ngoại kiểm đánh giá chất lượng xét nghiệm HIV chỉ đánh giá được các đơn vị sử dụng mẫu huyết tương hoặc huyết thanh. Cần có bộ mẫu sử dụng máu toàn phần để đánh giá các đơn vị xét nghiệm bằng máu đầu ngón tay.

4.1. Vai trò của Ngoại kiểm chất lượng xét nghiệm HIV trong hệ thống

Ngoại kiểm chất lượng xét nghiệm HIV là một phần không thể thiếu của hệ thống đảm bảo chất lượng. Nó giúp đánh giá khả năng của các phòng xét nghiệm trong việc thực hiện xét nghiệm một cách chính xác và tin cậy. Việc thực hiện ngoại kiểm định kỳ giúp phát hiện sớm các sai sót và có biện pháp khắc phục kịp thời, đảm bảo chất lượng dịch vụ xét nghiệm trên toàn hệ thống. "Việc đánh giá phương cách trong đó có cả phương cách chỉ gồm các sinh phẩm nhanh để chẩn đoán HIV" sẽ giúp nâng cao hiệu quả ngoại kiểm.

4.2. Xây dựng quy trình sản xuất bộ mẫu ngoại kiểm HIV máu toàn phần

Việc xây dựng quy trình sản xuất bộ mẫu ngoại kiểm HIV sử dụng máu toàn phần là cần thiết để đánh giá các đơn vị xét nghiệm bằng máu đầu ngón tay. Quy trình này cần đảm bảo tính ổn định, đồng nhất và đại diện của bộ mẫu. Theo tài liệu gốc, bộ mẫu ngoại kiểm đánh giá chất lượng xét nghiệm HIV hiện nay chỉ đánh giá được các đơn vị sử dụng mẫu huyết tương hoặc huyết thanh mà chưa có bộ mẫu sử dụng máu toàn phần để đánh giá các đơn vị xét nghiệm bằng máu đầu ngón tay.

4.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng của bộ mẫu ngoại kiểm HIV

Để đảm bảo tính tin cậy và hiệu quả của bộ mẫu ngoại kiểm HIV, cần có các tiêu chí đánh giá chất lượng cụ thể và rõ ràng. Các tiêu chí này bao gồm độ đồng nhất, độ ổn định, độ nhạy và độ đặc hiệu của mẫu, cũng như khả năng phát hiện các sai sót thường gặp trong quá trình xét nghiệm. Việc tuân thủ các tiêu chí này giúp đảm bảo rằng bộ mẫu ngoại kiểm là công cụ đáng tin cậy để đánh giá và nâng cao chất lượng xét nghiệm HIV.

V. Áp Dụng Thực Tế Đánh Giá Phương Cách Xét Nghiệm HIV

Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá phương cách xét nghiệm HIV thông qua chương trình ngoại kiểm. Tỷ lệ đơn vị phản hồi kết quả ngoại kiểm được ghi nhận. Xét nghiệm sai phân theo khối bệnh viện và khối y học dự phòng được phân tích. Thực trạng sử dụng sinh phẩm được đánh giá, bao gồm cả việc sử dụng sinh phẩm không có trong danh mục khuyến cáo của Bộ Y tế. Thực tế áp dụng phương cách xét nghiệm tại các đơn vị cũng được xem xét.

5.1. Kết quả đánh giá phương cách xét nghiệm HIV bằng sinh phẩm nhanh

Nghiên cứu đã đánh giá phương cách xét nghiệm HIV sử dụng sinh phẩm nhanh và ghi nhận kết quả về độ nhạy, độ đặc hiệu và tính khả thi khi áp dụng trên thực địa. Theo tài liệu gốc, việc sử dụng phương cách gồm các sinh phẩm nhanh sẽ giúp tăng cường tiếp cận với xét nghiệm HIV, rút ngắn thời gian trả kết quả, tăng tỷ lệ nhận kết quả xét nghiệm. Kết quả đánh giá sẽ giúp đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng sinh phẩm nhanh phù hợp.

5.2. Phân tích kết quả ngoại kiểm Xác định điểm yếu cần cải thiện

Phân tích kết quả ngoại kiểm giúp xác định các điểm yếu trong quy trình xét nghiệm và đưa ra các biện pháp cải thiện. Các lỗi thường gặp có thể liên quan đến kỹ thuật xét nghiệm, bảo quản mẫu, hoặc quản lý chất lượng. Việc phân tích kỹ lưỡng giúp các phòng xét nghiệm nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm thiểu sai sót. "Xét nghiệm sai phân theo khối bệnh viện và khối y học dự phòng" cần được phân tích để có giải pháp phù hợp.

VI. Nâng Cao Chất Lượng Phòng Xét Nghiệm HIV Hướng Đến Tương Lai

Để đạt được các mục tiêu 90-90-90 và tiến tới kết thúc đại dịch HIV/AIDS, việc nâng cao chất lượng phòng xét nghiệm HIV là vô cùng quan trọng. Cần tiếp tục hoàn thiện phương cách xét nghiệm, tăng cường chương trình ngoại kiểm, đầu tư vào đào tạo nhân lực và ứng dụng công nghệ mới. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, phòng xét nghiệm và cộng đồng là chìa khóa để đạt được thành công.

6.1. Giải pháp toàn diện để cải thiện chất lượng xét nghiệm HIV

Để cải thiện chất lượng xét nghiệm HIV, cần có giải pháp toàn diện, bao gồm hoàn thiện quy trình, nâng cao năng lực nhân viên, đầu tư trang thiết bị và tăng cường kiểm soát chất lượng. Giải pháp cần phù hợp với điều kiện thực tế của từng phòng xét nghiệm và được thực hiện một cách đồng bộ. "Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xét nghiệm HIV" song song với đảm bảo chất lượng.

6.2. Ứng dụng công nghệ mới trong xét nghiệm HIV Tiềm năng và thách thức

Ứng dụng công nghệ mới trong xét nghiệm HIV mang lại nhiều tiềm năng, giúp tăng tốc độ, độ chính xác và khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, cũng có những thách thức về chi phí, đào tạo nhân lực và quản lý dữ liệu. Việc lựa chọn và ứng dụng công nghệ cần được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo hiệu quả và tính bền vững.

15/05/2025
Xây dựng và áp dụng phương cách xét nghiệm hiv bộ mẫu ngoại kiểm để nâng cao chất lượng hệ thống phòng xét nghiệm hiv ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Kể từ khi được phát hiện vào năm 1981, dịch HIV/AIDS đã nhanh chóng lây lan trên phạm vi toàn thế giới và trở thành một trong những đại dịch nguy hiểm nhất cho đến hiện nay. Ở Việt Nam, dịch HIV/AIDS đã xuất hiện ở cả 63 tỉnh, thành phố. Hệ thống phòng xét nghiệm HIV ngày càng phát triển, từ phòng thí nghiệm (PTN) HIV đầu tiên năm 1988, hiện nay cả nước có 1.345 phòng xét nghiệm (PXN). Độ chính xác và đáng tin cậy của kết quả xét nghiệm nói chung và đặc biệt là xét nghiệm HIV là vấn đề quan trọng của bất kỳ phòng xét nghiệm.

Mẫu bệnh phẩm từ khi thu thập đến khi trả kết quả cho khách hàng phải trải qua nhiều khâu, trong mỗi khâu đều có thể có sai sót. Bộ Y tế Việt Nam đã nỗ lực trong nhiều năm qua nhằm cải thiện chất lượng xét nghiệm, xây dựng các văn bản pháp quy, cập nhật các hướng dẫn theo xu hướng thế giới. Việt Nam thực hiện xét nghiệm HIV theo 3 chiến lược dựa trên khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Thời gian đầu, phòng xét nghiệm khẳng định HIV thực hiện theo chiến lược III và sử dụng các sinh phẩm miễn dịch đánh dấu để khẳng định và không có đánh giá xem các sinh phẩm có đồng dương tính giả không.

Do đó, thời gian trả kết quả lâu, nhiều trường hợp mất dấu khách hàng và không kết nối được với điều trị. Để hạn chế những sai sót trong chẩn đoán, WHO cũng đưa ra khuyến cáo các nước cần triển khai đánh giá phương cách xét nghiệm nhằm lựa chọn ra các sinh phẩm tốt phối hợp với nhau trong phương cách xét nghiệm để tăng cường chất lượng chẩn đoán và hiệu quả giá thành. WHO cũng khuyến cáo việc đánh giá phương cách trong đó có cả phương cách chỉ gồm các sinh phẩm nhanh để chẩn đoán HIV. Việc sử dụng phương cách gồm các sinh phẩm nhanh sẽ giúp tăng cường tiếp cận với xét nghiệm HIV, rút ngắn thời gian trả kết quả, tăng tỷ lệ nhận kết quả xét nghiệm, người nhiễm sẽ sớm được tiếp cận với điều trị ARV, từ đó sẽ góp phần phòng chống lây nhiễm HIV hiệu quả hơn [175].

Tại hội nghị AIDS toàn cầu tháng 7 năm 2014, Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) đã đưa ra ba mục tiêu 90-90-90 đến năm 2020 10 là: 90% số người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm HIV của mình; 90% số người đã chẩn đoán nhiễm HIV được điều trị ARV và 90% số người được điều trị ARV kiểm soát được tải lượng virus ở mức thấp và ổn định (tải lượng HIV dưới ngưỡng ức chế) để sống khỏe mạnh và làm giảm nguy cơ lây truyền HIV cho người khác [187]. Để đạt được mục tiêu 90 đầu tiên, các nước đã nỗ lực thực hiện các sáng kiến, thí điểm các mô hình xét nghiệm mới, các kỹ thuật xét nghiệm đơn giản như xét nghiệm nhanh HIV bằng máu đầu ngón tay nhằm mở rộng các dịch vụ xét nghiệm. Tuy nhiên, việc mở rộng xét nghiệm kéo theo các vấn đề liên quan đến đảm bảo chất lượng xét nghiệm. Việt Nam là nước đầu tiên ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương phát động hưởng ứng các mục tiêu 90-90-90 của UNAIDS.

Theo báo cáo của Bộ Y tế, Việt Nam ước tính có khoảng 250.000 người nhiễm HIV trong cộng đồng, hiện tại số phát hiện được đến 31/12/2019 là 211.981 trường hợp nhiễm HIV, ước tính khoảng 84,7% người nhiễm HIV biết được tình trạng nhiễm. Chính vì vậy để đạt được mục tiêu 90 đầu tiên tiến tới kết thục đại dịch HIV/AIDS vào năm 2030 Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xét nghiệm HIV như: mở rộng xét nghiệm HIV ra tuyến quận, huyện và xã phường; xét nghiệm lưu động, mở rộng xét nghiệm tại cộng đồng sử dụng xét nghiệm nhanh với phương pháp sử dụng máu đầu ngón tay. Mở rộng xét nghiệm nếu không kiểm soát chất lượng tốt sẽ có nguy cơ chẩn đoán sai, trong khi HIV/AIDS là lĩnh vực rất nhạy cảm và còn nhiều kỳ thị. Để đảm bảo chất lượng cho các phòng xét nghiệm khi mở rộng ra các tuyến huyện, xã, xét nghiệm di động…, việc lựa chọn phương cách xét nghiệm chẩn đoán phù hợp với tình hình tại các tuyến quận, huyện cũng như chương trình ngoại kiểm nhằm đánh giá chất lượng các đơn vị này là rất quan trọng.

Tuy nhiên, thời điểm triển khai nghiên cứu chưa có các đánh giá chính thức về các phương cách xét nghiệm đặc biệt là các xét nghiệm nhanh cho các tuyến thực hiện. Trước tình hình đó, Bộ Y tế đã giao cho Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (VSDTTƯ), nơi có Phòng thí nghiệm tham chiếu quốc gia về HIV đạt tiêu chuẩn ISO15189 và ISO17043, thực hiện đánh giá phương cách xét nghiệm HIV. 11 Ngoài ra, bộ mẫu ngoại kiểm đánh giá chất lượng xét nghiệm HIV hiện nay chỉ đánh giá được các đơn vị sử dụng mẫu huyết tương hoặc huyết thanh mà chưa có bộ mẫu sử dụng máu toàn phần để đánh giá các đơn vị xét nghiệm bằng máu đầu ngón tay. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn như vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng và áp dụng phương cách xét nghiệm HIV, bộ mẫu ngoại kiểm để nâng cao chất lượng hệ thống Phòng xét nghiệm HIV ở Việt Nam”.

Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xây dựng và đánh giá một số phương cách xét nghiệm chẩn đoán HIV cho phòng xét nghiệm ở các tuyến y tế Việt Nam. Đánh giá khả năng áp dụng phương cách xét nghiệm chẩn đoán HIV đã xây dựng thông qua bộ mẫu ngoại kiểm huyết thanh học ở các phòng xét nghiệm HIV. Xây dựng quy trình sản xuất bộ mẫu ngoại kiểm bằng máu toàn phần để đánh giá các phòng xét nghiệm HIV sử dụng lấy mẫu máu đầu ngón tay.

Để đạt mục tiêu này, nội dung của luận án bao gồm: - Lựa chọn phương cách xét nghiệm gồm 03 sinh phẩm xét nghiệm nhanh và áp dụng thí điểm phương cách xét nghiệm này tại một số cơ sở y tế. - Đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu của một số phương cách xét nghiệm chẩn đoán HIV có thể sử dụng ở các tuyến khác nhau trong hệ thống y tế với phòng xét nghiệm có lượng mẫu nhiều (>40 mẫu/ngày) hoặc lượng mẫu ít (<40 mẫu/ngày). - Đánh giá chất lượng hệ thống phòng thí nghiệm áp dụng phương cách xét nghiệm chẩn đoán HIV được khuyến cáo thông qua bộ mẫu ngoại kiểm huyết thanh học. - Xây dựng quy trình, sản xuất bộ mẫu ngoại kiểm huyết thanh học HIV sử dụng mẫu máu toàn phần tại cấp độ phòng thí nghiệm, đánh giá chất lượng bộ mẫu, thử nghiệm với một số phòng xét nghiệm HIV, hoàn thiện quy trình sản xuất bộ mẫu để có thể sản xuất trên quy mô lớn.

12 Tính mới của luận án: - Lần đầu tiên Việt Nam xây dựng thành công 16 phương cách xét nghiệm chẩn đoán HIV bằng cách phối hợp các loại sinh phẩm khác nhau trong đó có phương cách xét nghiệm chỉ gồm các sinh phẩm xét nghiệm nhanh. Phương cách được đánh giá có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, hạn chế đặc điểm đồng dương tính giả và âm tính giả. Nghiên cứu đã khẳng định sử dụng phương cách gồm ba sinh phẩm nhanh là khả thi để xét nghiệm chẩn đoán HIV. Đây là tiền đề cho việc mở rộng các xét nghiệm khẳng định HIV ra tuyến quận, huyện, rút ngắn thời gian trả lời kết quả cho khách hàng, tránh mất dấu và kết nối điều trị sớm góp phần quan trọng để đạt được mục tiêu 90-90-90.

- Nghiên cứu cho thấy chương trình ngoại kiểm huyết thanh học HIV, ngoài việc được sử dụng đánh giá chất lượng hệ thống các phòng xét nghiệm HIV, lần đầu tiên được áp dụng để đánh giá hiệu quả việc sử dụng phương cách xét nghiệm chẩn đoán HIV được khuyến cáo ở Việt Nam. - Bộ mẫu ngoại kiểm HIV sử dụng mẫu máu toàn phần lần đầu tiên được sản xuất thành công tại Việt Nam, sẽ góp phần kiểm soát tốt hơn chất lượng xét nghiệm HIV đặc biệt các đơn vị sử dụng phương pháp chích máu đầu ngón tay. Đây là hình thức xét nghiệm đang được mở rộng triển khai ở trên 300 phòng xét nghiệm ở Việt Nam. ĐẠI CƯƠNG VỀ HIV Năm 1981, Micheal S Gottlieb đã mô tả 4 ca bệnh tại Los Angeles bị bệnh phổi do Pneumocystis carinii ở 4 thanh niên trẻ (29-33 tuổi) có quan hệ tình dục đồng giới, không có tiền sử bệnh lý đặc biệt, có sự giảm tế bào lympho T-CD4.

Đây là lần đầu tiên loài người biết đến một căn bệnh lạ trên thế giới, đó là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (Acquired Immune Deficiency Syndrome -AIDS) [52, 88]. Do đó ban đầu hội chứng này được gọi là suy giảm miễn dịch có liên quan với tình dục đồng giới. Human Immunodeficiency Virus (HIV) là tác nhân gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Năm 1983, các nhà khoa học Pháp thuộc Viện Pasteur Paris đã phân lập được HIV-1 từ hạch của một bệnh nhân bị hội chứng hạch to kéo dài [40].

Năm 1984, các nhà nghiên cứu đã chứng minh được tế bào đích của HIV chính là tế bào lympho T-CD4. Năm 1985, các sinh phẩm xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV được sản xuất. Năm 1986, virus này chính thức được Ủy ban Quốc tế thống nhất là HIV [160]. Kể từ đó đến nay, HIV/AIDS được coi là đại dịch, là thảm họa của nhân loại bởi tốc độ lây truyền nhanh và rộng khắp.

Cho đến nay, nhiều thuốc được sử dụng để điều trị nhằm giúp bệnh nhân kéo dài và cải thiện chất lượng cuộc sống. Nhiều phác đồ mang lại hiệu quả tốt nhưng cũng gặp các trở ngại do xuất hiện các chủng HIV kháng thuốc. Hiện nay, cũng chưa có các công bố thành công về thuốc điều trị và chữa khỏi HIV. Một người bị nhiễm HIV sẽ trở thành nguồn lây nhiễm cho người khác.

Đa số những trường hợp nhiễm HIV đều không có các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh trong khoảng thời gian dài. Chính vì vậy, nhiều trường hợp không biết mình đã bị nhiễm cho đến khi xét nghiệm, giai đoạn này họ hoàn toàn có thể làm lây truyền virus cho những người khác [24-26]. Đặc điểm virus HIV HIV là virus thuộc phân nhóm Lentivirus và họ Retroviridae gây ra. Lentivirus gồm các virus gây ra các bệnh tiến triển chậm, thời gian ủ bệnh dài.

Trong nhóm có một số virus gây bệnh trên người như HIV-1 và HIV-2 và một số virus khác gây bệnh 14 trên động vật như SIV (khỉ), FIV (mèo), EIAV (ngựa). Thời gian từ khi nhiễm HIV đến khi tiến triển thành AIDS trung bình khoảng 10 năm [123, 132, 139].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ