Chương 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIẺN 1.1 Các khái niệm liên quan 1.1 Khái niệm du lịch Có nhiều khái niệm về du lịch đã được đặt ra. Trên thế giới, tùy theo hoàn cảnh và mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau mà các tố chức hoặc các chuyên gia đều có một cách hiếu về du lịch khác nhau. Một số học giả cho rằng “du lịch” trong ngôn ngữ cùa nhiều nước có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Tornos” nghĩa là đi một vòng, thuật ngữ được Latin hóa thành Tornus, và sau đó thành Tourisme (trong tiếng Pháp), Tourism (trong tiếng Anh). Một số học giả khác lại cho rằng thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn từ tiếng Pháp là “le tourisme” nhưng bản thân từ này lại bắt nguồn từ gốc “le tour” nghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó chuyển thành “tourism” trong tiếng Anh (Tuệ, N.
- chủ biên, 2014) được sử dụng phố biến hiện nay. Thuật ngữ du lịch trong tiếng Việt được phiên âm theo tiếng Hán, trong đó “du” có nghĩa là đi chơi, “lịch” có nghĩa là sự trải nghiệm. Thuật ngữ này viết theo tiếng Trung hiện đại là “^/#“ nghĩa là du lãm. Như vậy, mặc dù chưa có sự thống nhất về nguồn gốc hình thành thuật ngữ “du lịch” nhưng các học giả đã đưa ra quan điếm chung của thuật ngữ này là đều chỉ về một cuộc hành trình đi theo một vòng từ nơi này đến nơi khác và có quay trở lại nơi xuất phát ban đầu.
Trong phạm vị nghiên cứu này, một số khái niệm về du lịch có the tham chiếu được liệt kê như sau: Theo quan điếm quốc tế: Định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO - United Nations World Tourism Organization): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du học, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền”. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi 9 định cư. Định nghĩa của UNWTO về du lịch lại hướng đến chủ yếu là các hoạt động của khách du lịch (du hành, tạm trú, tham quan, khám phá, trải nghiệm, nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn). Các hoạt động này được quy định là phải diễn ra liên tục trong một khoảng thời gian nhất định, ở một không gian nhất định mà không phải là nơi mình định cư sinh sống, và không có mục đích kinh tế (kiếm tiền).
Theo Liên minh các To chức Lữ hành Quốc te (IUOTO - International Union of Official Travel Organization): “Du lịch là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”. Theo quan điếm Quốc gia: Theo Luật Du lịch Việt Nam 2017, Khoản 1 Điều 3: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiêu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Định nghĩa của Luật Du lịch có quan điếm tương tự định nghĩa của UNWTO: tức chỉ bàn đến hoạt động của khách du lịch, không bàn đến hoạt động kinh doanh du lịch (Luật Du lịch Việt Nam, 2017). Nhìn chung, có nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về du lịch, nhưng đều nêu lên những điểm chung nhất về du lịch chính là: - Du lịch là một lình vực có liên quan đến rất nhiều lình vực khác, trong đó có kinh tế và xã hội.
- Là sự di chuyển và lưu trú tạm thời ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên; - Du lịch không nhằm mục đích kinh tế mà nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, nâng cao nhận thức, thể thao, khám phá. và hướng đến hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia.2 Khách du lịch Năm 1989 tại Hội nghị quốc tế về du lịch tố chức tại Hà Lan đã đưa ra các khái niệm chung nhất về khách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian ít hơn 3 tháng, mục 10 đích không phải là làm việc đế nhận thu nhập ở nơi đến và sau thời gian lưu trú ở đó du khách trờ về nơi ở thường xuyên của mình. Khách du lịch nội địa là công dân của một nước, hành trình đến một nơi trong đất nước đó, khác nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ, hay một đêm với mọi mục đích, trừ mục đích hoạt động đe được trả thù lao tại nơi đến. ở Việt Nam, khái niệm khách du lịch bao gồm khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa: Khách du lịch quốc tế gồm có hai nhóm khách: Là người nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài vào Việt Nam du lịch (khách Inbound) và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch (khách Outbound).
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thô Việt Nam. Theo Luật Du lịch Việt Nam 2017, Khoản 2 Điều 3 nêu rõ: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đen”.3 Sản phẩm du lịch Hiện nay trên thế giới và Việt Nam đã có các định nghĩa về sản phàm du lịch (SPDL) như sau: Theo định nghĩa của UNWTO “Sản phấm du lịch là tong họp 3 yếu tố cấu thành: kết cấu hạ tầng du lịch, tài nguyên du lịch (TNDL) và cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, lao động và quản lý du lịch”. ĐỒ Quốc Thông (2007) định nghĩa: “Sản phẩm du lịch là một tổng the phức họp bao gồm nhiều yếu tố cấu thành: Tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, kết cấu cơ sở vật chất kỳ thuật phục vụ du lịch và đội ngũ phục vụ nhằm cung cấp cho khách du lịch một khoảng thời gian thú vị, những trải nghiệm và sự hài lòng cho du khách”. 11 Theo Luật Du lịch Việt Nam 2017, Khoản 5 Điêu 3 đã nêu: “Sản phâm du lịch được hiếu là tập hợp các dịch vụ trên cơ sờ khai thác giá trị tài nguyên du lịch đế thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” (Luật Du lịch Việt Nam, 2017).4 Chương trình du lịch Theo những quy định về kinh doanh du lịch lữ hành trọn gói của các nước Liên minh Châu Âu và Hiệp hội các Hãng lữ hành Vương quốc Anh trong cuốn sách “Kinh doanh Du lịch Lữ hành”: Chương trình du lịch là sự kết họp được sắp xếp từ trước cùa ít nhất 2 trong số các dịch vụ: nơi ăn ở, các dịch vụ khác sinh ra từ dịch vụ giao thông hoặc nơi ăn ở và nó được bán với mức giá gộp và thời gian của chương trình phải nhiều hơn 24 giờ.
Theo Luật Du lịch Việt Nam 2017, Khoản 8 Điều 3 đà nêu: “Chương trình du lịch là văn bản the hiện lịch trình, dịch vụ và giá bán được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ điểm xuất phát đến diem kết thúc chuyến đi. Các đặc diêm của một chương trình du lịch (CTDL): + CTDL được xem là sản phầm đặc trưng và quan trọng nhất của doanh nghiệp lữ hành. Vì vậy, CTDL phải được thiết kế và xây dựng dựa trên việc nghiên cứu nhu cầu thực tế của du khách sao cho mỗi CTDL phù họp nhất với từng yêu cầu của khách. + CTDL là một sản phấm do doanh nghiệp lữ hành bán cho người tiêu dùng, nhưng điều đặc biệt là người tiêu dùng sản phấm này ít có khả năng tiêu dùng một mình, mà cần có sự trợ giúp thông qua vai trò cùa hướng dần viên.
Hướng dẫn viên sẽ đi cùng du khách từ ngày đầu tới ngày cuối trong chương trình, giúp khách tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí, giải quyết các sự cố, giúp khách thực hiện chương trình du lịch đạt hiệu quả cao nhất. + CTDL luôn được cung cấp nhiều mức giá khác nhau đe cho du khách lựa chọn sao cho phù họp nhất với mình. Giá cùa CTDL bao gồm toàn bộ các chi phí cơ bản trong chương trình, nhưng du khách không cần phải mua toàn bộ các dịch vụ có trong chương trình mà có the mua từng dịch vụ riêng lẻ trong đó như: lưu trú, ăn uống, di chuyên. + CTDL cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến chuyến đi của du khách bao gồm các điếm tham quan, chương trình vui chơi giải trí, địa điểm lưu trú, ăn uống, đi lại.
12 Tất cả những thông tin này đều phải nằm trong những điều khoản cung cấp dịch vụ được ký kết giữa khách hàng và doanh nghiệp lữ hành, hướng dẫn viên du lịch là người có trách nhiệm giúp khách thực hiện toàn bộ chưong trình du lịch theo lịch trinh cụ thế đã thỏa thuận giữa hai bên, không được phép tự ý thay đổi nội dung hay trinh tự về thời gian chương trình.5 Tài nguyên du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam 2017, Khoản 4 Điều 3: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở đe hình thành sản phấm du lịch, khu du lịch, diem du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm Tài nguyên du lịch thiên nhiên và Tài nguyên du lịch văn hóa” (Luật Du lịch Việt Nam, 2017). Theo Luật Du lịch Việt Nam 2017, Điều 15: “Tài nguyên du lịch thiên nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên được sử dụng cho mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử-văn hóa, di tích cách mạng, khảo cố, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch.6 Khái niệm du lịch outbound Trong hoạt động du lịch quốc tế, du lịch đón khách quốc tế gọi là du lịch Inbound; du lịch gửi khách quốc tế gọi là du lịch outbound.