phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Đảng bộ tỉnh Bắc K ạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 2001 đến năm 2005. Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 2005 đến năm 2010. Chƣơng 3: Nhận xét chung và những kinh nghiệm chủ yếu. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC KẠN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.
Khái quát đặc điểm, tình hình chung của tỉnh Bắc Kạn và công tác xây dựng đảng trƣớc năm 2001 1. Vài nét về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội * Về điều kiện tự nhiên: - Về vị trí địa lý: Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm ở phía đông bắc bộ. Với tổng diện tích tự nhiên là 4.857,21 km2; phía Bắc giáp Cao Bằng, phía Nam giáp Thái Nguyên, phía Đông giáp Lạng Sơn, phía Tây giáp Tuyên Quang và một góc tây bắc giáp với Hà Giang. Thị xã tỉnh lỵ cách Thủ đô Hà Nội 170 km về phía bắc.
- Về địa hình: Là tỉnh miền núi, địa hình Bắc Kạn rất đa dạng, phức tạp, chủ yếu là khe suối, đồi núi cao; hệ thống sông, suối có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh; giao thông khó khăn, chủ yếu là đƣờng bộ, tỉnh có quốc lộ 3 đi qua dài 123,5 km, đây là con đƣờng giao thông huyết mạch quan trọng nối liền Bắc Kạn với các địa phƣơng khác trong khu vực; ngoài ra còn có quốc lộ 279 sang các tỉnh Tuyên Quang, quốc lộ 3B sang Lạng Sơn và hệ thống giao thông liên huyện, tạo thành mạng lƣới giao thông phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế - văn hoá của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. - Về khí hậu, thuỷ văn: Khí hậu của Bắc Kạn mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hƣởng của lục địa Bắc Á Trung Hoa, nhiệt độ trung bình 22 oC; có hai mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh, khô hạn, mùa hè nóng ẩm, mƣa nhiều. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm đạt 1. Độ ẩm bình quân năm là 85%.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bắc Kạn còn có nhiều danh lam thắng cảnh thiên nhiên: Hồ Ba Bể rộng 450 ha là danh thắng độc đáo. Hồ và vƣờn Quốc gia Ba Bể là di sản thiên nhiên của Đông Nam Á, với hệ thống rừng nguyên sinh hàng trăm loài thực vật, động vật quý hiếm,. không những chỉ giá trị trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên quí giá mà còn có tiềm năng to lớn về du lịch, đóng vai trò điều tiết nƣớc, điều hoà khí hậu, cung cấp thuỷ sản, phát triển giao thông thuỷ lợi. - Về dân số: Đến ngày 01 tháng 4 năm 2009 toàn tỉnh có 75.648 hộ, dân số 294.660 ngƣời, là tỉnh ít dân nhất cả nƣớc; mật độ dân số: 61 ngƣời/km2; có 7 dân tộc gồm: Tày, Kinh, Dao, Nùng, Hoa, Mông, Sán Chay (Cục Thống kê Bắc Kạn, năm 2009) - Về tổ chức hành chính: Tỉnh Bắc Kạn đƣợc chia làm 8 đơn vị hành chính gồm 7 huyện và một thị xã, cụ thể gồm các huyện: Ngân Sơn, Pác Nặm, Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rì, Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn (huyện Ba Bể, Pác Nặm là 2 huyện nghèo đƣợc hƣởng chƣơng trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ).
Toàn tỉnh có 112 xã, trong đó có 63 xã và 96 thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc chƣơng trình 135 của Chính phủ (Uỷ ban dân tộc miền núi, Quyết định số 05/2007/QĐ-UBDT, ngày 06 – 9 - 2007), 6 thị trấn, 4 phƣờng và 1.399 thôn, tổ nhân dân. *Về tình hình kinh tế - xã hội: - Về kinh tế + Sản xuất công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá IX đã ban hành nghị quyết về định hƣớng phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành qui hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản của tỉnh giai đoạn 2007 - 2010 và định hƣớng đến năm 2020. Thực hiện qui hoạch 3 loại rừng để tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản. Tỉnh đã quan tâm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khắc phục mọi khó khăn để đẩy mạnh sản xuất, kinh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com doanh, song do nhiều nguyên nhân khác nhau nên sản xuất công nghiệp phát triển chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của tỉnh.
+ Về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển đô thị: Đến nay hầu hết các đô thị và cụm dân cƣ nông thôn đã có qui hoạch chung và qui hoạch chi tiết. Các đô thị nhất là thị xã Bắc Kạn đã từng bƣớc hoàn thiện kỹ thuật hạ tầng. Năm 2009 đã có 87,5% số xã có điểm bƣu điện văn hoá, số hộ dân đƣợc sử dụng điện lƣới Quốc gia là: 85%, số hộ dân đƣợc sử dụng nƣớc hợp vệ sinh đạt 75%, số xã có trạm truyền hình đạt 90,2%, và có 100% số xã đã có đƣờng ô tô đến trung tâm xã. + Sản xuất nông, lâm nghiệp: Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có nhiều chủ trƣơng, giải pháp khuyến khích phát triển nông lâm nghiệp nhƣ trích ngân sách để phòng, chống bệnh dịch gia súc, hỗ trợ lãi xuất phát triển chăn nuôi trâu bò; hỗ trợ vốn xây dựng mô hình đạt giá trị thu nhập 30 triệu đến 50 triệu đồng/ha, tiếp tục thực hiện trợ cƣớc, trợ giá các loại giống, vật tƣ phục vụ sản xuất.
nên sản lƣợng nông nghiệp đạt kết quả khá. Tốc độ tăng trƣởng chung của ngành trong những năm qua đều đạt và vƣợt chỉ tiêu đã đề ra. + Về thƣơng mại, du lịch: Hoạt động thƣơng mại diễn ra sôi động, công tác phát triển thị trƣờng luôn đƣợc đầu tƣ phát triển. Tổng mức luân chuyển hàng hoá bán lẻ trên địa bàn năm 2009 là: 1.
Du lịch đƣợc xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Bắc Kạn, nên tiềm năng du lịch bƣớc đầu đã đƣợc quân tâm đầu tƣ và khai thác có hiệu quả. + Tài chính, tín dụng: Quản lý, khai thác có hiệu quả các nguồn thu trên địa bàn và kết quả thu ngân sách hằng năm đều vƣợt dự toán đề ra (năm 2007 đạt 123,3 tỷ đồng, vƣợt 12,1% kế hoạch; năm 2008 đạt 154,2 tỷ đồng, vƣợt 13,3% kế hoạch; năm 2009 đạt 177,110 tỷ đồng bằng 100,7% kế hoạch). 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoạt động ngân hàng luôn có chuyển biến tích cực, nguồn vốn huy động và tổng dƣ nợ cho vay tăng trƣởng khá. Tổng vốn huy động bình quân 3 năm gần đây tăng 28,6%/năm; tổng dƣ nợ cho vay tăng bình quân 33,8%/năm.
Tốc độ tăng trƣởng kinh tế bình quân của tỉnh trong 5 năm (2005 - 2010) khá cao đạt 11%, thu nhập bình quân đầu ngƣời không ngừng đƣợc nâng cao, đời sống của nhân dân nhìn chung đã đƣợc cải thiện và nâng cao hơn; tuy nhiên một bộ phận đồng bào các dân tộc ở vung cao, vùng sâu còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (năm 2010: 19,86%). - Về văn hoá - xã hội + Giáo dục và đào tạo: Công tác giáo dục đào tạo luôn đƣợc quan tâm lãnh đạo, thực hiện có két quả tốt; đến nay tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đào tạo ở các cấp phổ thông từ 90% trở lên, toàn tỉnh đã có 27 trƣờng ở các cấp học đạt chuẩn quốc gia, 116 xã, phƣờng, thị trấn của 8 huyện, thị đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở. Đã thực hiện tốt công tác chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Mặc dù kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông còn thấp so với cả nƣớc nhƣng tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trƣờng đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp tăng hơn so với trƣớc.
Đã thành lập trƣờng cao đẳng cộng đồng, trƣờng trung cấp y và trƣờng trung cấp nghề nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và đào tạo của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. + Y tế: Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân đƣợc quan tâm, mạng lƣới y tế từ tỉnh đến cơ sở đƣợc củng cố, kiện toàn. Việc thực hiện các chƣơng trình, mục tiêu quốc gia về y tế và phòng chống dịch bệnh đạt kết quả tốt, tỉ lệ trẻ em dƣới 5 tuổi bị suy dinh dƣỡng năm 2009 giảm xuống còn 26,5%; 100% trạm y tế xã, phƣờng, thị trấn đƣợc dựng kiên cố, bán kiên cố; chất lƣợng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân trên địa bàn tỉnh không ngừng đƣợc nâng cao. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Lao động, việc làm và các vấn đề xã hội: Công tác lao động, giải quyết việc làm gắn với chƣơng trình xoá đói, giảm nghèo đƣợc quan tâm thƣờng xuyên thông qua các dự án vay vốn tạo việc làm cho ngƣời lao động tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh; công tác tạo việc làm mới hằng năm đều đạt chỉ tiêu đề ra và đến năm 2009 đã tạo việc làm mới cho 6.000 lao động, đạt 100% kế hoạch đề ra.
Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn mới) đã giảm từ 50,87% năm 2005 đến năm 2009 xuống còn 25,82%. Các chính sách đối với thƣơng binh, gia đình liệt sĩ, ngƣời có công với cách mạng đƣợc thực hiện tốt. Công tác bảo trợ xã hội đƣợc quan tâm nhƣ việc cứu đói, cứu trợ trong các kỳ giáp hạt, tết, cứu trợ thƣờng xuyên cho các đối tƣợng cần đƣợc hỗ trợ và cứu trợ đột xuất cho đối tƣợng do bị thiên tai, hoả hoạn. Các chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc luôn đƣợc triển khai thực hiện tốt tại địa phƣơng nhƣ: Chƣơng trình 134, 135 và trợ cƣớc các mặt hàng chính sách; bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng của nhân dân đúng quy định pháp luật.
Năm 2009 tỉnh đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Kạn lần thứ nhất. - Quốc phòng - an ninh + Lực lƣợng quân sự địa phƣơng luôn đƣợc quan tâm xây dựng vững mạnh, hằng năm đều thực hiện tốt các chỉ tiêu tuyển quân, huấn luyện, đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức quốc phòng, tuyển sinh quân sự theo kế hoạch; công tác xây dựng củng cố và diễn tập khu vực phòng thủ đƣợc thực hiện đúng kế hoạch đề ra. Công tác xây dựng dân quân, tự vệ thƣờng xuyên đƣợc quan tâm chú trọng. + Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đƣợc đảm bảo.