Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề cơ bản về dạy học tích hợp 1. Khái niệm tích hợp TH trong tiếng Anh được viết là integration – một từ gốc Latinh (integer) có nghĩa là toàn bộ, toàn thể. TH là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy.
Theo từ điển Tiếng Việt, TH là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng. Theo từ điển Giáo dục học, TH là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học. TH là sự kết hợp có hệ thống các kiến thức có liên quan và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đưa vào bài học [10].TS Dương Tiến Sỹ, TH được hiểu là sự hợp nhất hay sự nhất thể hóa đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất giữa các thành phần của đối tượng, nó không phải một phép cộng mang tính cơ học những thuộc tính của các thành phần ấy. Như vậy, TH có hai thuộc tính cơ bản liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn.
Tính liên kết tạo nên một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần. Tính toàn vẹn thể hiện ở mối quan hệ hữu cơ dựa trên sự thống nhất nội tại của các thành phần liên kết ấy. Sẽ không thể gọi là TH nếu các thành phần 9 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn đó chỉ là sự sắp đặt bên cạnh nhau mà không có mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần đó [12].TS Nguyễn Phúc Chỉnh, TH kiến thức là sự liên kết, kết hợp, lồng ghép tri thức của các khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất. DHTH là quá trình trong đó có sự lồng ghép, liên hệ những tri thức khoa học, những quy luật chung gần gũi với nhau, qua đó người học không chỉ lĩnh hội được tri thức khoa học của môn học chính mà cả những tri thức của khoa học được TH.
Từ đó, hình thành cho người học cái nhìn khái quát hơn đối với các khoa học có cùng đối tượng nghiên cứu, đồng thời có được phương pháp xem xét vấn đề một cách logic, biện chứng [3]. Như vậy, “TH là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [12]. Dạy học tích hợp A. Baez (nguyên chủ tịch tổ chức IUNC), cho rằng các khoa học trở thành “tích hợp” khi chúng không còn bị “phân chia” nữa.
Mọi sự vật hiện tượng vốn đã tồn tại là một thực thể toàn vẹn. Con người nghĩ ra cách “phân chia” chúng để mở rộng dần phạm vi hiểu biết của mình. Như vậy, sự “phân chia” đó chỉ là hình thức mang tính nhân tạo, không phải bản chất của sự tồn tại [3], [12]. Còn theo Hội nghị tại Maryland 4/1973 thì khái niệm dạy học TH các nhà khoa học còn bao gồm cả việc dạy học tích hợp các khoa học với công nghệ học.
Định nghĩa này nhấn mạnh sự phục thuộc lẫn nhau giữa hiểu biết khái niệm và nguyên lý khoa học với ứng dụng thực tiễn. 10 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Tuy có những cách định nghĩa khác nhau nhưng chúng lại thống nhất biện chứng với nhau ở tư tưởng chính là việc thực hiện một mục tiêu “kép” trong dạy học (một là mục tiêu dạy học thông thường của một bài học, hai là mục tiêu được TH trong nội dung bài học đó). Các nhà giáo dục (GD) đã khẳng định rằng: Đến nay không còn là lúc bàn đến vấn đề cần hay không, mà chắc chắn là cần phải dạy học tích hợp. Đây cũng là ý kiến kết luận của Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học, với sự bảo trợ của UNESCO tổ chức tại Varna (Bungri) “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học” tháng 9/1968.
Như vậy, DHTH có thể hiểu đó là một quan điểm dạy học nhằm hình thành và phát triển ở HS những NL cần thiết trong đó có NL vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là đảm bảo cho mỗi HS biết vận dụng kiến thức được học trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ; qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có NL. DHTH đòi hỏi việc học tập ở nhà trường phổ thông phải được gắn với các tình huống của cuộc sống sau này mà HS có thể phải đối mặt và chính vì thế nó trở nên có ý nghĩa đối với HS. Như vậy, DHTH sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi HS, giúp các em thành công trong vai trò người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai.
Quan điểm về tích hợp các môn học Theo Xavier Roegierscó 4 cách tích hợp môn học: Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học, được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học. 11 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Cách 2: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học. Cách 3: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp. Cách này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất, mục tiêu hoặc cho những môn học có đóng góp bổ sung cho nhau, thường dựa vào một môn học công cụ.
Trong trường hợp này môn học tích hợp được cùng một GV giảng dạy. Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp [11]. Theo D’Hainaut (1997, xuất bản lần thứ V, 1988) có thể chấp nhận 4 quan điểm tích hợp khác nhau đối với các môn học: - Quan điểm “trong nội bộ môn học”, trong đó ưu tiên nội dung của môn học. Quan điểm này nhằm duy trì môn học riêng rẽ.
- Quan điểm “đa môn”, ở đây các môn học vẫn là riêng biệt nhưng có những liên kết có chủ đích giữa các môn học và trong từng môn bởi các chủ đề hay các vấn đề chung. Khi học về một vấn đề nào đó HS đồng thời được tiếp cận từ nhiều bộ môn khác nhau. - Quan điểm “liên môn”, trong đó đề xuất những tình huống chỉ có thể được tiếp cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trước, các quá trình học tập sẽ không được đề cập một cách rời rạc mà phải liên kết với nhau xung quanh vấn đề cần giải quyết. - Quan điểm “xuyên môn”, trong đó chủ yếu phát triển những kĩ năng mà học sinh có thể sử dụng tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống.
Đó là kĩ năng xuyên môn. Có thể lĩnh hội kĩ năng này qua từng môn học hoặc qua những hoạt động chung của nhiều môn học [11]. 12 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Nhu cầu phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường hướng tới quan điểm liên môn và quan điểm xuyên môn. Khái niệm năng lực 1.
Khái niệm năng lực Khái niệm, năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”. NL là một vấn đề khá trừu tượng, ngày nay khái niệm NL được hiểu nhiều nghĩa khác nhau. NL được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với công việc.Roegiers: NL là sự TH các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề (VĐ) cho những tình huống này đặt ra.Leonchiev, “NL là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”.TS Nguyễn Quang Uẩn, “NL là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt”. Ngoài ra phạm trù NL còn được hiểu theo nhiều cách khác và mỗi cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng.
- NL hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định. Chẳng hạn, khả năng giải toán, khả năng nói tiếng Anh,…thường được đánh giá bằng các trắc nghiệm trí tuệ. - NL là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động [14]. 13 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn Một diễn đạt khác nữa của định nghĩa năng lực: “NL là tập hợp các kĩ năng (các hoạt động) tác động lên các nội dung trong một tình huống có ý nghĩa đối với học sinh”.
Như vậy, dù định nghĩa NL được phát biểu theo những cách khác nhau nhưng đều khẳng định NL chính là khả năng thực hiện là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu tức là phải vận dụng kiến thức, kinh nghiệm sẵn có, sử dụng các kĩ năng của bản thân một cách chủ động và có trách nhiệm. Một NL là tổ hợp đo lường được các kiến thức và kĩ năng và thái độ mà một người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến động. Do đó, để thực hiện nhiệm vụ HS cần chuyển hóa những kiến thức, kĩ năng và thái độ có được vào giải quyết những tình huống xảy ra. Khái niệm về năng lực dạy học tích hợp Năng lực DHTH là tập hợp các kĩ năng của GV tác động lên các tài liệu học tập, làm cho tài liệu đó có ỹ nghĩa thực tiễn đối với HS [3].
Như vậy, NL này là một hoạt động phức hợp đòi hỏi sự TH, phối hợp các kiến thức và kĩ năng, chứ không phải là sự tác động các kĩ năng riêng rẽ lên một nội dung. DHTH nhấn mạnh dạy cách tìm tòi sáng tạo và cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau.