Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Xây dựng một số tình huống trong dạy học học phần lý thuyết số Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 13 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. PPDH hiện đại và đổi mới PPDH toán ở Việt Nam 1. Nhu cầu và định hướng đổi mới PPDH Sự phát triển của xã hội và đổi mới đất nƣớc đang đòi hỏi cấp bách phải nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo.
Công cuộc đổi mới này đề ra những yêu cầu mới đối với hệ thống giáo dục, điều đó đòi hỏi chúng ta, cùng với những thay đổi về nội dung, cần có những đổi mới về PPDH. PPDH phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tƣ duy sáng tạo của ngƣời học; bồi dƣỡng cho ngƣời học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vƣơn lên” (14, tr. Ở nƣớc ta, tƣ tƣởng chỉ đạo công cuộc đổi mới PPDH từ một vài năm gần đây đƣợc phát biểu với nhiều thuật ngữ nhƣ: tích cực hoá hoạt động học tập, hoạt động hoá ngƣời học, lấy ngƣời học làm trung tâm. Với tƣ tƣởng đó, định hƣớng đổi mới PPDH hiện nay là tổ chức cho ngƣời học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo.
Định hƣớng đó bao hàm các ý tƣởng đặc trƣng sau [8, tr. Xác lập vị trí chủ thể của người học, bảo đảm tính tự giác, tích cực và sáng tạo của hoạt động học tập được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu. Ngƣời học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ chứ không phải là nhân vật hoàn toàn làm theo lệnh của thầy giáo. Vai trò chủ thể của ngƣời học đƣợc khẳng định trong quá trình họ học tập trong hoạt động và bằng hoạt động của bản thân mình.
Tri thức được cài đặt trong những tình huống có dụng ý sư phạm Để dạy một tri thức nào đó thầy giáo thƣờng không thể trao ngay cho học sinh những điều muốn dạy; cách làm tốt nhất thƣờng là cài đặt tri thức đó vào những tình huống thích hợp để học sinh chiếm lĩnh nó thong qua hoạt động tự giác, tích cực và sáqng tạo của bản thân 1. Dạy việc học, cách học thông qua toàn bộ quá trình dạy học. Mục đích dạy học không phải chỉ ở những kết quả cụ thể của quá trình học tập: ở tri thức và kỹ năng bộ môn mà điều quan trọng hơn là ở bản thân việc học, ở cách học, ở khả năng đảm nhiệm, tổ chức và thực hiện những quá trình học tập một cách hiệu quả.Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách người thiết kế, uỷ thác, điều khiển và thể chế hoá. Hoạt động hoá ngƣời học dễ dẫn tới việc ngộ nhận về sự giảm sút vai trò của ngƣời thầy.
Một mặt, cần phải hiểu rằng hoạt động hoá ngƣời học, sự xác lập vị trí chủ thể của ngƣời học không hề làm suy giảm, mà ngƣợc lại còn nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của ngƣời thầy. Mặt khác, sẽ là bảo thủ nếu cho rằng tính chất, vai trò của ngƣời thầy vẫn nhƣ xƣa. Trong khi khẳng định vai trò của thầy không suy giảm, cần phải thấy rằng tính chất của vai trò này đã thay đổi: Thầy không phải là nguồn phát tin duy nhất, thầy không phải là ngƣời ra lệnh một cách khiên cƣỡng, thầy không phải là ngƣời hoạt động chủ yếu ở hiện trƣờng. Vai trò trách nhiệm của thầy bây giờ quan trọng hơn, nặng nề hơn, cụ thể là: + Thiết kế: xác định, hoạch định toàn bộ kế hoạch giảng dạy.
+ Uỷ thác: phải biến đƣợc ý đồ dạy của thầy thành nhiệm vụ tự nguyện, tự giác của trò. 15 z + Điều khiển: hƣớng dẫn, tổ chức quá trình học tập sao cho học sinh tự tìm tòi và tự giải quyết nhiệm vụ đó. + Thể chế hoá: đánh giá hoạt động học tập của học sinh, xác định vị trí kiến thức trong hệ thống tri thức đã có và hƣớng dẫn khả năng vận dụng kiến thức đó. Trong đó hai vai trò ủy thác và thể chế hóa đƣợc nhấn mạnh trong LTTH.2 PPDH hiện đại và quan điểm dạy học tích cực Bản chất của dạy học tích cực là đề cao chủ thể nhận thức, chính là phát huy tính tự giác, chủ động của ngƣời học.
Tích cực là một nét quan trọng của tính cách, theo Kharlanôp: “Tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có hƣớng đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những hành động trí óc và tay chân nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn". Nhƣ vậy tích cực là một đức tính quý báu rất cần thiết cho mọi quá trình nhận thức, là nhân tố quan trọng tạo nên hiệu quả dạy học. PPDH tích cực là những PPDH theo hƣớng phát huy tính chủ động, độc lập và sáng tạo, hƣớng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của ngƣời học. PPDH tích cực có những đặc trƣng cơ bản là [20, tr.12-19]: - Ngƣời học tập trung cao độ trong học tập, chủ động tìm tòi khám phá nội dung học tập, chủ động giải quyết các vấn đề phù hợp với khả năng hiểu biết của mình, đề xuất các ý tƣởng sáng tạo và tự nguyện trình bày, diễn đạt các ý kiến của mình.
Theo lí thuyết kiến tạo, PPDH tích cực chính là giúp cho "ngƣời học tự xây dựng những cấu trúc trí tuệ riêng cho mình về những tài liệu học tập, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin dựa trên vốn kiến thức đã có 16 z và nhu cầu hiện tại, bổ sung thêm những thông tin cần thiết để tìm ra ý nghĩa của tài liệu mới" (Shuell, 1993), ngƣời học chính là chủ thể của quá trình nhận thức. - Ngƣời dạy: linh hoạt, mềm dẻo, luôn tạo cơ hội để ngƣời học tham gia và làm chủ hoạt động nhận thức. Ngƣời dạy xây dựng đƣợc những môi trƣờng có khả năng thúc đẩy ngƣời học tự điều khiển hoạt động học tập, cung cấp những nhiệm vụ học tập có mức độ phù hợp với từng SV, tạo điều kiện cho từng SV đƣợc phép lựa chọn, tự lập kế hoạch, tự đƣa ra mục đích hoạt động, tự mình hoặc hợp tác để thực hiện nhiệm vụ học tập, cuối cùng tự nhận xét đánh giá kết quả học tập của bản thân. Ngƣời dạy chỉ là ngƣời tổ chức và hƣớng dẫn quá trình nhận thức.
- Nội dung bài dạy không đi sâu vào từng chi tiết cụ thể mà sắp xếp thành các vấn đề liên kết hoặc sắp xếp theo nguyên lí cơ chế để kích thích tƣ duy và tính chủ động sáng tạo trong cách giải quyết các vấn đề của ngƣời học. Trong Luật Giáo dục của nƣớc ta, điều 36b cũng nêu rõ: "Phƣơng pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dƣỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho ngƣời học phát triển tƣ duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng", sử dụng các PPDH tích cực trong dạy học ở đại học chính là thực hiện luật Giáo dục. Lý thuyết tình huống 1. Cơ sở khoa học của LTTH Nội dung trình bày ở mục này dựa theo [16, tr.
Cơ sở triết học Theo triết học duy vật biện chứng: “Mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quá trình phát triển”. Mỗi vấn đề đƣợc gợi cho học sinh học tập chính là một mâu 17 z thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ nhận thức với kiến thức và kinh nghiệm sẵn có. Tình huống này phản ánh một cách lôgic và biện chứng quan hệ bên trong giữa kiến thức cũ, kỹ năng cũ, kinh nghiệm cũ với những yêu cầu giải thích sự kiện mới hoặc đổi mới tình thế. Cơ sở tâm lý học LTTH có cơ sở tâm lý học là học thuyết về sự phát sinh, phát triển trí tuệ của Piaget (1896 – 1980), nhà tâm lý học ngƣời Thụy Sĩ.
Theo Piaget sự phát triển của con ngƣời là quá trình thích ứng tích cực với những yêu cầu thƣờng xuyên đổi mới của môi trƣờng thông qua hai cơ chế không thể tách biệt: đồng hóa và điều ứng. Sự thích nghi trí tuệ đƣợc đặt cân bằng giữa sự đồng hóa của thực nghiệm vào những cấu trúc diễn dịch và sự điều ứng của những cấu trúc ấy vào những dữ kiện của thực nghiệm. Nói một cách khái quát, sự thích nghi đòi hỏi một sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, sao cho chủ thể có thể nhập vào khách thể mà vẫn tính đến đặc điểm của mình; sự thích nghi càng sâu sắc hơn khi sự đồng hóa và điều ứng càng đƣợc phân hóa và bổ sung cho nhau tốt hơn.Cơ sở giáo dục học Cơ sở giáo dục học của LTTH là: Hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn khi quá trình nhận thức đồng thời là quá trình hình thành kỹ năng ứng xử, năng lực tự khẳng định mình, năng lực đánh giá tƣ tƣởng ngƣời khác, năng lực tìm tòi cái mới, rèn luyện tính mềm dẻo, uyển chuyển, sáng tạo, khả năng thích ứng cao và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. Hệ thống dạy học tối thiểu trong LTTH (Một số khái niệm cơ bản) 18 z Nội dung trình bày ở mục này dựa theo [7, tr.
Theo LTTH, các thành tố cơ bản của QTDH cần đƣợc bổ sung thành tố thứ tƣ là Môi trƣờng, liên hệ mật thiết với ba thành tố: Học trò, Thầy giáo, Tri thức. Các thành tố này tác động hữu cơ lẫn nhau, đƣợc mô tả dƣới dạng sơ đồ sau: Sơ đồ 1. GV Môi trƣờng Học sinh Tri thức 1. Tri thức Về thành phần tri thức, lần đầu tiên Yres Chevallard (1985) và Verret (1975) đã phân tích quá trình tổng quát của sự biến đổi từ tri thức khoa học thành tri thức dạy học và gọi là sự chuyển hóa sƣ phạm.
Ở đây tri thức đƣợc xét theo ba cấp độ: Tri thức khoa học, tri thức chƣơng trình, tri thức dạy học. Tri thức khoa học: Để thông báo một tri thức, nhà nghiên cứu thƣờng xóa bỏ lịch sử của tri thức đó, không nêu lại tình huống cụ thể, bỏ qua những tìm tòi, dự đoán, sai lầm của cá nhân mình và không trình bày 19 z các mốc thời gian của quá trình dần dần nảy sinh tri thức, tức là đã phi hoàn cảnh hóa, phi cá nhân hóa, phi thời gian hóa. Nhà nghiên cứu chỉ thể hiện tri thức đúng đắn mà cuối cùng đã đạt đƣợc, dƣới một dạng tổng quát nhất có thể đƣợc, theo những quy tắc diễn đạt hiện hành trong cộng đồng khoa học.