Chương 1: Tranh chấp trên Biển Đông và sự ra đời của bản Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Chương 2: Kết quả và khó khăn trong việc triển khai thực hiện DOC Chương 3: Vai trò của DOC trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông Chương 4: Xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông và một số kiến nghị. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA TUYÊN BỐ VỀ CÁCH ỨNG XỬ CỦA CÁC BÊN Ở BIỂN ĐÔNG (DOC) 1. Biển Đông và tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông 1.
Tổng quan về Biển Đông. Biển Đông là một vùng biển nửa kín, rộng khoảng chừng 3,4 triệu km2, nằm trên tuyến đường hàng hải Đông- Tây và có quan trọng về quân sự, kinh tế, ngoại giao, giao thông hàng hải và nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực và trên thế giới. Vì vậy, Biển Đông là nơi đầy tiềm năng để phát triển về mọi mặt nhưng đồng thời cũng là nơi chứa tiềm tàng nguy cơ bất ổn do sự tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh các lợi ích về biển. Biển Đông có hai quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa.
Quần đảo Hoàng Sa có hơn 30 hòn đảo đá san hô, có diện tích từ 0,5 km2 đến 1,5 km2, nằm trên vùng biển rộng 15. Quần đảo Trường Sa có trên 100 hòn đảo nhỏ và bãi san hô, với diện tích từ 160 km2 đến 180 km2, cách cảng Cam Ranh của Việt Nam khoảng 248 hải lý. Biển Đông có nhiều eo biển có tính chiến lược quan trọng bậc nhất thế giới, trong đó phải kể đến như Malaca, Lombok, Makosdo, Đài Loan và nhiều cảng biển quan trọng cho mục đích an ninh quốc phòng như Cam Ranh của Việt Nam, Hoàng Phố của Trung Quốc, Bicsic của Philippines. Công ước Luật biển năm 1982 (UNCLOS) là bước phát triển tiến bộ của luật biển quốc tế.
Đối với Biển Đông, bước tiến này đã mở ra những cơ hội mới nhưng đồng thời cũng tạo ra thách thức lớn về quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường biển của các nước ven Biển Đông; đặc biệt trong đó có vấn đề giải quyết tranh chấp về biển. Hiện nay, Biển Đông là 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một điểm nóng trong khu vực, tập trung nhiều sự chú ý cũng như sự đan xen phức tạp về lợi ích của các nước Đông Nam Á và một số cường quốc, là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến hoà bình và an ninh khu vực, cũng như tính toán chiến lược của nhiều nước. Việc mở rộng phạm vi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven Biển Đông dựa trên cơ sở UNCLOS đã dẫn đến việc hình thành các khu vực chồng lấn và sự tranh chấp về chủ quyền, tài nguyên khoáng sản… Điểm nóng của tranh chấp trên Biển Đông hiện nay chủ yếu liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ việc tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo này xuất hiện một loạt vấn đề liên quan bao gồm cả việc xác định phạm vi lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia liên đới; giải pháp tạm thời nhằm duy trì hoà bình, ổn định trong khu vực.
Bản chất của các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vị trí chiến lược của các quần đảo đó trong Biển Đông và nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là dầu khí, hải sản. Biển Đông nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải huyết mạch của khu vực và thế giới, là đầu mối thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương; giữa châu Âu, châu Phi và Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản, với các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Do đó, Biển Đông được coi là tuyến hàng hải chiến lược, đông đúc vào bậc nhất thế giới, chỉ sau Địa Trung Hải. Trung bình cứ bốn tàu vận hành trên đại dương thì có một tàu quan Biển Đông, trong đó có 15-20% tàu có trọng tải trên 3.
Lịch sử và diễn biến tình hình tranh chấp trên Biển Đông Lịch sử và diễn biến tình hình tranh chấp trên Biển Đông có thể chia thanh ba giai đoạn như sau: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giai đoạn trước năm 1974: Biển Đông tương đối ổn định; không có xung đột tranh chấp lớn trên Biển Đông Việt Nam khám phá và chiếm hữu Hoàng Sa khi quần đảo này ở tình trạng vô chủ. Từ thế kỷ thứ 15, Việt Nam đã có hoạt động mang tính quốc gia liên tục đối với quân đảo Hoàng sa và liên tục được các Chúa Nguyễn duy trì. Vua Gia long đã đặt chủ quyền tại Hoàng Sa từ năm 1816.
Hàng năm, đội Hoàng sa và Đội Bắc Hải của Triều Nguyễn cư trú 8 tháng tại Hoàng Sa để thi hành kế hoạch của Bộ Công. Vua Minh Mạng đặt trạm thuế từ năm 1835. Trong thời gian này, Trung Quốc không hề phản đổi việc có hiện diện của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa. Theo Monique Chemillier Gendreau trong bài viết về quần đảo Trường Sa năm 1996 thì “Việt Nam đã giữ chủ quyền không có cạnh tranh trên hai quần đảo Hoàng Sa và trường Sa, phù hợp với hệ thống pháp luật thời đó”.
Năm 1894, Pháp đô hộ Việt Nam và tiếp tục tuyên bố chủ quyền liên tục trên quần đảo Hoàng Sa. Năm 1921, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp. Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco năm 1951, đại diện cho Quốc gia Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp, Thủ tướng Trần Văn Hữu xác định chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau khi Nhật Bản tuyên bố từ bỏ tất cả các đảo ở Biển Đông. Tại Hội nghị này, không có đại diện quốc gia nào lên tiếng phản đối tuyến bố của Việt Nam.
Tháng 4 năm 1956, quân đội Viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền miền Nam Việt Nam đưa các lực lượng vũ trang thay thế các đơn vị Pháp ở quần đảo Hoàng Sa và cho sáp nhập quần đảo này vào tỉnh Quảng Nam. Nhưng khi đó, Trung Quốc đã cho quân đổ bộ một cách kín đáo, chiếm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bộ phận phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh), khi đó quân đội của chính quyền miền Nam Việt Nam ở phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Ngày 15 tháng 3 năm 1956, Thomas Cloma, một công dân của Philippines đã đổ bộ lên một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa với danh nghĩa tư nhân. Ông có ý đồ chiếm hữu một số hòn đảo và đặt tên là “đất tự do” bằng lập luận về quyền pháp hiện và chiếm cứ.
Ngày 15 tháng 5 năm 1956, ông ta thông báo cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Philippines. Người đại diện của Philippines tuyến bố trừ bảy đảo với tên gọi quốc tế là Spratleys, thì tất cả các đảo còn lại đều được xem là đất vô chủ. Tháng 5 năm 1956, Bắc Kinh ra Thông báo tuyên bố sẽ đáp trả lại bất kỳ một xâm phạm nào liên quan đến quyền lợi của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên quần đảo Trường sa. Trong khi đó, đại sứ Đài Loan tại Manila nhân danh Trung Hoa Dân Quốc khẳng định chủ quyền của Trung Quốc từ thế kỷ 15.
Đồng thời, Đài Loan đưa một đơn vị đồn trú đến đóng tại Đảo Ba Bình, là đảo lớn nhất trong số các đảo của quần đảo Trường Sa và duy trì sự hiện diện của họ trên đảo này từ đó đến nay. Tháng 6 năm 1956, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chính quyền Nam Việt Nam, Vũ Văn Mẫu, khẳng định lại các quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường sa và Hoàng Sa. Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Bắc Kinh ra một Tuyên bố xác định bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý, trong đó nêu rõ phạm vi áp dụng cho các quần đảo. Ngày 11 tháng 7 năm 1971, Tổng thống Philippines cho biết quân đội Đài Loan chiếm đóng và củng cố đảo Ba Bình nhưng ông lại không bày tỏ bất kỳ một yêu sách nào của Philippines về quần đảo này mặc dù quân đội Phlippines đã chiếm đóng trên một số đảo nhỏ.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngày 16 tháng 7 năm 1971, Bắc Kinh lên án Philippines chiếm đóng một số đảo của quần đảo Trường Sa và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo này. Ngày 15 tháng 01 năm 1974, Trung Quốc cho quân đổ bộ lên các đảo phía Tây Hoàng Sa mà từ trước đó vẫn do chính quyền Nam Việt Nam chiếm đóng. Ngày 02 tháng 3 năm 1973, qua thông điệp gửi đến tất cả các nước ký Hiệp định Paris, chính quyền Nam Việt Nam nhắc lại sự bảo đảm vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam đã được cộng đồng thế giới công nhận. Tháng 7 năm đó, Đoàn đại biểu chính quyền Nam Việt Nam tham dự Hội nghị quốc tế về Luật biển đã ra tuyên bố nhằm khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo.
Giai đoạn từ năm 1974 đến năm 1999: Đây là giai đoạn có nhiều diễn biến tranh chấp nảy sinh Tháng 5 năm 1975, Việt Nam dành lại quyền kiểm soát các đảo ở quần đảo Trường Sa từ tay hải quân chính quyền Nam Việt Nam. Tháng 10 năm 1975, Bắc Kinh gửi một công hàm cho Việt Nam trong đó nhấn mạnh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa luôn luôn là bộ phận không thể tách rời của Trung Quốc. Ngày 12 tháng 5 năm 1977, Việt Nam đưa ra Tuyên bố về các vùng biển của mình, bao gồm lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Tuyên bố này ghi rõ các đảo, quần đảo là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và nằm ngoài lãnh hải; các đảo và quần đảo này đều có các vùng biển riêng của chúng.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1979, Philippines ban hành Sắc lệnh cho rằng gần như toàn bộ quần đảo Trường Sa thuộc về Philippines. Tuyên bố này được đưa ra sau khi Philippines chiếm thêm đảo Lan Can ở quần đảo Trường Sa vào năm 1978. Tháng 12 năm 1979, Malaysia cho xuất bản một tấm bản đồ vẽ ranh giới lãnh hải của Malaysia. Theo tấm bản đồ này thì lãnh hải của Malaysia lấn vào vùng biển phía Nam quần đảo Trường Sa trong đó có đảo do Việt Nam và Philippines đang chiếm giữ.
Ngày 12 tháng 11 năm 1982, Việt Nam ra tuyên bố về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải. Tuyên bố này bao gồm cả các quần đảo.