Xây Dựng Nền Văn Hóa Trong Kháng Chiến Chống Pháp (1945-1954)

Khám phá luận văn thạc sĩ về xây dựng nền văn hóa trong kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945-1954, phân tích và đánh giá sâu sắc.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2009

122
10
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Xây Dựng Nền Văn Hóa Kháng Chiến 1945 1954

Nền văn hóa là yếu tố sống còn của một dân tộc, đặc biệt trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Đảng Cộng sản Việt Nam coi văn hóa là mặt trận quan trọng, vũ khí tư tưởng sắc bén. Sau Cách mạng Tháng Tám, sự ra đời của nhà nước kiểu mới kéo theo sự hình thành nền văn hóa mới, gắn bó chặt chẽ với chế độ mới. Nền văn hóa cứu quốc đóng vai trò then chốt trong việc củng cố chính quyền và thúc đẩy kháng chiến. Trường Chinh khẳng định kháng chiến phải toàn diện, bao gồm cả mặt trận văn hóa. Bản “Đề cương văn hóa Việt Nam” (1943) và Hội Văn hóa cứu quốc là nền tảng cho quá trình xây dựng nền văn hóa mới. Quá trình này gian khổ, đòi hỏi Đảng phải cương quyết chống lại văn hóa phản động, phê phán quan điểm lạc hậu, đồng thời tiếp thu ảnh hưởng của các mô hình văn hóa tiến bộ.

1.1. Vai Trò Của Văn Hóa Trong Sự Nghiệp Giải Phóng Dân Tộc

Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng tinh thần yêu nước và đoàn kết dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nền văn hóa mới đã góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân về mục tiêu độc lập dân tộc và kháng chiến kiến quốc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là tổng hòa những sáng tạo của con người trong quá trình sinh tồn và phát triển.

1.2. Bối Cảnh Lịch Sử Ảnh Hưởng Đến Quá Trình Xây Dựng Văn Hóa

Bối cảnh lịch sử thời kỳ 1945-1954, với cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ, đã tác động mạnh mẽ đến quá trình xây dựng nền văn hóa mới. Sự xâm lược của thực dân Pháp đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc để chống lại sự đồng hóa văn hóa của kẻ thù. Đồng thời, nhu cầu xây dựng một xã hội mới, dân chủ và tiến bộ cũng đặt ra yêu cầu về việc xây dựng một nền văn hóa mới, phù hợp với lý tưởng cách mạng.

II. Thách Thức Xây Dựng Văn Hóa Trong Giai Đoạn Kháng Chiến

Việc xây dựng nền văn hóa trong giai đoạn kháng chiến gặp nhiều khó khăn. Nguồn lực hạn hẹp, cơ sở vật chất thiếu thốn, đội ngũ cán bộ văn hóa mỏng. Văn hóa phản động, tư tưởng lạc hậu vẫn tồn tại, ảnh hưởng đến nhận thức của người dân. Việc tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm xây dựng văn hóa từ các nước khác cũng gặp nhiều trở ngại do khác biệt về điều kiện lịch sử, văn hóa. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền kháng chiến phải đối mặt với sự kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp ở vùng bị chiếm đóng.

2.1. Khó Khăn Về Nguồn Lực Và Cơ Sở Vật Chất Cho Văn Hóa

Trong giai đoạn kháng chiến, đất nước phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn về mọi mặt, từ lương thực, thực phẩm đến vũ khí, thuốc men. Nguồn lực dành cho văn hóa cũng bị hạn chế đáng kể. Cơ sở vật chất cho các hoạt động văn hóa, như nhà hát, thư viện, bảo tàng, bị tàn phá hoặc sử dụng cho mục đích quân sự. Điều này gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động văn hóa và phổ biến văn hóa đến người dân.

2.2. Ảnh Hưởng Của Văn Hóa Phản Động Đến Quần Chúng Nhân Dân

Thực dân Pháp sử dụng văn hóa như một công cụ để ru ngủ và đồng hóa người dân Việt Nam. Các sản phẩm văn hóa phản động, như phim ảnh, sách báo, ca nhạc, được du nhập vào Việt Nam để làm suy đồi đạo đức và làm mất đi bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, các tư tưởng lạc hậu, như mê tín dị đoan, cũng tồn tại trong xã hội, gây cản trở cho việc xây dựng một nền văn hóa mới, tiến bộ.

III. Phương Pháp Xây Dựng Nền Văn Hóa Mới Trong Kháng Chiến

Để xây dựng nền văn hóa mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp. Xác định rõ đường lối văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng. Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục văn hóa trong quần chúng. Tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ kháng chiến, văn hóa đại chúng. Đồng thời, tăng cường hợp tác văn hóa với các nước bạn bè, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc.

3.1. Xây Dựng Đường Lối Văn Hóa Dân Tộc Khoa Học Đại Chúng

Đường lối văn hóa của Đảng trong giai đoạn kháng chiến được xác định là dân tộc, khoa học và đại chúng. Dân tộc là kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Khoa học là tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại chúng là văn hóa phải phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân, dễ hiểu, dễ tiếp thu và có tính giáo dục cao.

3.2. Phát Huy Vai Trò Của Văn Nghệ Sĩ Kháng Chiến Trong Sự Nghiệp

Đội ngũ văn nghệ sĩ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa mới. Họ là những người trực tiếp sáng tạo ra các tác phẩm văn học nghệ thuật phản ánh cuộc sống kháng chiến và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam. Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ phát huy tài năng và cống hiến cho sự nghiệp văn hóa của dân tộc.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Văn Học Nghệ Thuật Kháng Chiến Chống Pháp

Văn học nghệ thuật trở thành vũ khí sắc bén trong cuộc kháng chiến. Các tác phẩm văn học, điện ảnh, âm nhạc, hội họa phản ánh chân thực cuộc sống chiến đấu, lao động của nhân dân, ca ngợi tinh thần yêu nước, ý chí quyết thắng. Nhiều tác phẩm đã trở thành biểu tượng của nền văn hóa kháng chiến, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội. Các tác phẩm nghệ thuật kháng chiến đã góp phần quan trọng vào việc động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta.

4.1. Thể Loại Và Nội Dung Các Tác Phẩm Văn Học Kháng Chiến

Văn học kháng chiến phong phú về thể loại, từ thơ ca, truyện ngắn, tiểu thuyết đến kịch. Nội dung tập trung phản ánh cuộc sống chiến đấu, lao động của nhân dân, ca ngợi tinh thần yêu nước, ý chí quyết thắng và tình đồng chí, đồng đội. Nhiều tác phẩm đã khắc họa thành công hình tượng người chiến sĩ cách mạng kiên cường, bất khuất, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

4.2. Ảnh Hưởng Của Nghệ Thuật Kháng Chiến Đến Đời Sống Tinh Thần

Nghệ thuật kháng chiến có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người dân. Các tác phẩm nghệ thuật đã góp phần nâng cao nhận thức về mục tiêu độc lập dân tộc và kháng chiến kiến quốc, khơi dậy lòng yêu nước, căm thù giặc và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. Đồng thời, nghệ thuật cũng giúp người dân giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi trong cuộc sống kháng chiến đầy gian khổ.

V. Giáo Dục và Báo Chí Hai Trụ Cột Văn Hóa Thời Kháng Chiến

Giáo dục kháng chiến tập trung vào việc xây dựng con người mới, có ý thức dân tộc, có kiến thức khoa học, kỹ thuật, có khả năng phục vụ kháng chiến và kiến quốc. Báo chí kháng chiến đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh cuộc sống chiến đấu, lao động của nhân dân, đấu tranh chống lại luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Báo chí đã trở thành công cụ đắc lực của Đảng trong việc tuyên truyền và giáo dục quần chúng.

5.1. Mục Tiêu Và Nội Dung Của Giáo Dục Kháng Chiến

Giáo dục kháng chiến hướng đến việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, có kiến thức khoa học kỹ thuật cần thiết để phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến thiết đất nước. Nội dung giáo dục tập trung vào việc bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm công dân và kiến thức về văn hóa, lịch sử dân tộc.

5.2. Vai Trò Của Báo Chí Kháng Chiến Trong Tuyên Truyền và Giáo Dục

Báo chí kháng chiến đóng vai trò then chốt trong việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thông tin về tình hình chiến sự, phản ánh cuộc sống chiến đấu, lao động của nhân dân. Đồng thời, báo chí còn có vai trò giáo dục, nâng cao nhận thức văn hóa, chính trị cho người dân, góp phần củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối cùng.

VI. Bài Học Kinh Nghiệm Xây Dựng Văn Hóa Từ Kháng Chiến Chống Pháp

Quá trình xây dựng nền văn hóa trong kháng chiến chống Pháp để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Cần xác định rõ vai trò của văn hóa trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Phải xây dựng đường lối văn hóa đúng đắn, phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa của đất nước. Cần phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác văn hóa. Quan trọng hơn cả là phát huy sức mạnh của văn hóa trong việc đoàn kết dân tộc và xây dựng tinh thần yêu nước.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Xác Định Đường Lối Văn Hóa

Việc xác định đường lối văn hóa đúng đắn là yếu tố then chốt để xây dựng một nền văn hóa vững mạnh và phát triển. Đường lối văn hóa phải phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa của đất nước, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Một đường lối văn hóa sai lầm có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển của đất nước.

6.2. Phát Huy Sức Mạnh Văn Hóa Trong Đoàn Kết Dân Tộc

Văn hóa có sức mạnh to lớn trong việc đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chống lại kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước. Cần phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm giàu thêm nền văn hóa Việt Nam. Đoàn kết dân tộc là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù.

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của bản báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam”, Trƣờng Chinh nêu rõ: “Chúng ta họp lại nơi đây, không ngoài mục đích định rõ (LUAN.1954) 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1954) phƣơng châm hoạt động văn hóa, đoàn kết các nhà văn hóa nƣớc ta thành một mặt trận, động viên các lực lƣợng văn hóa nƣớc ta để dốc vào cuộc chiến đấu của dân tộc, để đuổi giặc, cứu nƣớc và xây dựng một nền văn hóa mới” [60, tr. Chủ tịch Mao Trạch Đông trong quan điểm lý luận văn hóa dân chủ mới ở Trung Quốc đã có những ý kiến biện chứng giữa phổ cập và nâng cao trong văn hóa. Nâng cao trên cơ sở phổ cập, phổ cập dƣới sự chỉ đạo của nâng cao. Bất kể phổ cập hay nâng cao đều là để phục vụ đại chúng công nông binh.

Sau này, trong thực tiễn của quá trình vận động văn hóa của Việt Nam, vấn đề giữa phổ cập và nâng cao đƣợc cụ thể hóa trong điều kiện Việt Nam đó chính là cuộc tranh luận giữ nghệ thuật và tuyên truyền. Phổ cập chính là tuyên truyền, mà nâng cao chính là nghệ thuật. Cuộc tranh luận này là vấn đề khúc mắc kéo dài khá lâu trong đấu tranh lý luận ở Việt Nam. Sau này cũng nhƣ Trung Quốc, Đảng ta trong “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” cũng chỉ rõ: “Tuyên truyền tới mức cao sẽ trở thành nghệ thuật, nghệ thuật thiết thực tới một mức nào đó thì nghệ thuật có tính chất rõ rệt tuyên truyền”.

Và “nếu nhà văn đó thiết thực và trung thành với thời đại thì tác phẩm của họ, nghệ thuật càng cao, càng có ý nghĩa tuyên truyền mạnh” [60, tr. Đƣợc chỉ đạo chặt chẽ bởi đƣờng lối văn nghệ kháng chiến, quan điểm nghệ thuật gắn liền với nhiệm vụ tuyên truyền, văn hóa gắn liền với nhiệm vụ chính trị trở thành xu thế phát triển chung của ý thức văn hóa thời đại ấy. Khi đời sống tinh thần chung của một dân tộc đều hƣớng về chiến đấu và chiến thắng, khẩu hiệu “yêu nƣớc và căm thù giặc” trở thành phƣơng châm hoạt động của nghệ sỹ thì quan điểm nghệ thuật gắn liền với tuyên truyền, văn hóa đi cùng với chính trị là phù hợp với quy luật vận động của lịch sử. Ở đây tính thực tế của văn hóa nghệ thuật đƣợc phát huy mạnh mẽ.

Muốn giải quyết vấn đề văn nghệ phục vụ cách mạng, phục vụ công nông binh, văn hóa phải phản ánh đúng đắn cuộc sống của nhân dân. Vấn đề mấu chốt căn bản nhất là những ngƣời làm công tác văn nghệ phải gắn bó với quần chúng, cải tạo tƣ tƣởng, đồng thời tìm nguồn sáng tác trong việc gắn bó với quần chúng. Đó là một quan điểm trọng yếu trong tƣ tƣởng văn nghệ của Mao Trạch Đông. “Muốn cải (LUAN.1954) 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1954) tạo tƣ tƣởng cũ và xây dựng thế giới quan vô sản có hiệu quả, các văn nghệ sĩ chỉ cần hạ quyết tâm, thông qua việc học tập lý luận chủ nghĩa Mác trƣờng kỳ…lao mình vào cuộc đấu tranh cách mạng, hòa mình với quần chúng và kết hợp qua lại giữa lý luận và thực tế”.

“Những ngƣời công tác văn nghệ nhất định phải làm tròn nhiệm vụ đó, phải bỏ đầu óc tiểu tƣ sản đi, phải đi sâu vào công, nông, binh, vào phong trào đấu tranh thực tế, phải học tập chủ nghĩa Mác-Lê-nin và học tập xã hội, dần dần đi hẳn với công, nông, binh. Chỉ nhƣ thế, chúng ta mới có một nền văn nghệ công, nông, binh chân chính [53, tr. Đây là điểm xuất phát của chủ trƣơng chỉnh huấn, chỉnh phong nhằm cải tạo tƣ tƣởng, nâng cao lập trƣờng chính trị cho cán bộ và quần chúng, kể cả trong văn hóa, văn nghệ. Ở Việt Nam thời kỳ này, ảnh hƣởng của quan điểm này rất lớn.

Từ 1950, trong lĩnh vực giáo dục đã tiến hành cuộc vận động “rèn cán chỉnh cơ” rầm rộ. Từ năm 1952, trong văn học nghệ thuật, các văn nghệ sĩ trăn trở trong quá trình “nhận đƣờng” và “lột xác” để xác lập lập trƣờng chính trị của mình. Cùng với cán bộ, anh chị em văn hóa văn nghệ tham gia cuộc vận động chỉnh huấn. Đây là dịp mà các anh chị em nhìn lại ƣu điểm, khuyết điểm của chính mình, kiểm tra lại nhận thức của mình đối với cách mạng dân tộc dân chủ.

Từ đó năm 1954, anh chị em văn nghệ sĩ hăng hái hơn trong chiến đấu, và đặc biệt là hăng hái đi vào cuộc vận động giảm tô và cải cách ruộng đất, tìm hiểu sâu hơn đời sống nhân dân. Các đợt chỉnh huấn, chỉnh phong suốt trong thời kỳ từ 1950-1954 là một trong những biện pháp để nhằm giáo dục tƣ tƣởng, chỉnh đốn lập trƣờng cho không chỉ cán bộ, bộ đội mà còn dành cho cả các văn nghệ sĩ. Nhƣng ảnh hƣởng của việc coi trọng yếu tố “hồng” (yếu tố chính trị) hơn yếu tố “chuyên” (chuyên môn) trong sáng tác văn nghệ, lấy tính Đảng là yếu tố quy chuẩn chi phối quá trình sáng tạo văn học nghệ thuật cũng có những tác động trái chiều. Một trong những hạn chế của việc yếu tố chính trị chi phối sáng tạo nghệ thuật là vô hình chung trong nhiều trƣờng hợp, các văn nghệ sĩ tự đánh rơi đi “cái tôi” riêng của mình trong nghệ thuật.

Những cá tính sáng tạo riêng cũng đã bị yếu tố chính trị chi phối đi ít nhiều. Do đó, có những lúc chúng ta bắt gặp tâm trạng “băn khoăn”, lo âu của một số văn nghệ sĩ trên con đƣờng đi theo kháng chiến.1954) 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1954) Có một điều có thể nhận thấy trong văn hóa Việt Nam thời kỳ 1945-1954 là khi mà những nguyên tắc xây dựng nền văn hóa dân chủ mới chúng ta học tập từ Trung Quốc đƣợc đẩy lên thái quá thì trong một chừng mực nó sẽ mang tính hẹp hòi, giáo điều. Một số nhà văn thời kỳ bấy giờ nhƣ Nguyễn Thành Long cũng nhận ra rằng đó là những khuynh hƣớng “cực tả” của “văn nghệ Diên An” [113, tr. Thực tế là những nguyên tắc mang tính “giai cấp” phần nào đó đã có những tác động tới quá trình nhận thức tƣ tƣởng cũng nhƣ quá trình sáng tác của các nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ Việt Nam thời kỳ này.

Trƣớc năm 1950, cuộc kháng chiến của chúng ta bị bao vây, cô lập. Do đó nền văn hóa kháng chiến cũng ít có khả năng ảnh hƣởng từ bên ngoài. Nhƣng từ năm 1950 trở đi, khi chúng ta phá đƣợc thế bao vây cô lập của Pháp sau chiến thắng Biên giới 1950, thì không khí của nền văn hóa thay đổi hẳn và bắt đầu có sự đón nhận những luồng gió mới thổi từ Trung Quốc, đặc biệt đó là những ảnh hƣởng của các nguyên tắc văn hóa dân chủ nhân dân. Nền văn hóa bắt đầu có những sắc màu đa diện, phong phú.

Các nhà văn hóa Việt Nam đã có những sự trăn trở để áp dụng những nguyên tắc đó phù hợp với bối cảnh cũng bản sắc truyền thống của văn hóa Việt Nam.Tuy nhiên, trong buổi đầu xây dựng, sự vận dụng khó tránh khỏi những biểu hiện ấu trĩ, ít nhiều ảnh hƣởng tới thành tựu của nền văn hóa kháng chiến. Tóm lại, trong bối cảnh của cuộc kháng chiến trƣờng kỳ chúng ta bị bao vây cô lập từ nhiều phía, việc chúng ta vẫn hƣớng tới sự giúp đỡ và học tập những kinh nghiệm của các nƣớc anh em nhƣ Trung Quốc và Liên Xô vẫn đƣợc đặt ra và coi trọng. Chính vì vậy mà “việc khai thác vốn cũ dân tộc không thể tách rời với việc họp tập văn nghệ của nƣớc bạn, nhất là học tập kinh nghiệm về việc tổ chức sáng tác văn nghệ, về bản thân những sáng tác của Liên Xô, Trung Quốc. Học tập văn nghệ các nƣớc bạn là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển văn nghệ Việt Nam.

Nhiều băn khoăn của chúng ta, các nƣớc bạn đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc, đã đi đến những kết luận có thể giúp chúng ta giải quyết thích đáng. Nhiều mò mẫm của chúng ta hiện nay, chúng ta cũng có thể trong khi học tập các tài liệu của các nƣớc bạn, tìm ra ánh sáng để tránh nhiều vấp váp” [93, tr.1954) 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số nhân tố của bối cảnh trong nƣớc 1.Đời sống kháng chiến Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, trƣớc khi bƣớc vào cuộc kháng chiến, đất nƣớc ta đang đứng trƣớc muôn vàn khó khăn và bị chủ nghĩa đế quốc bao vây bốn phía. Thế nhƣng chúng ta có những tiền đề thuận lợi cho công cuộc xây dựng nƣớc nhà trong một kỷ nguyên độc lập.

Quá trình xây dựng nền văn hóa mới của nƣớc nhà không vận động ngoài hoàn cảnh đó. Từ thân phận nô lệ trở thành công dân và ngƣời làm chủ của một nƣớc độc lập, tự do, đồng bào ta khắp từ Nam chí Bắc dâng trào niềm tự hào, phấn khởi. Các giai cấp, các tầng lớp yêu nƣớc, nhân dân các dân tộc một lòng tin tƣởng vào Chính phủ cách mạng, vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên quyết bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám. Trƣớc những hành động xâm lƣợc và phá hoại của đế quốc và tay sai, nhân dân ta từ Nam chí Bắc, từ miền ngƣợc đến miền xuôi càng thêm đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chính phủ Cụ Hồ, hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh- mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi do Đảng lãnh đạo.

Các Hội cứu quốc trong mặt trận nhƣ Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu vong, v. phát triển mạnh mẽ. Khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo, nền tảng của mặt trận đƣợc phát triển và củng cố vững chắc. Đây thực sự là khối quần chúng cách mạng, khối đoàn kết toàn dân đƣợc tổ chức chặt chẽ, là lực lƣợng chính trị hùng hậu.

Lực lƣợng chính trị hùng hậu ấy đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc. Đây là cơ sở vững chắc để xây dựng, phát triển lực lƣợng mọi mặt của cách mạng, là nền tảng để thực hiện vũ trang toàn dân, hình thành và phát triển lực lƣợng vũ trang nhân dân. Đây cũng chính là cơ sở vững chắc nhất để xây dựng hậu phƣơng kháng chiến ở trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Trƣớc các âm mƣu và hành động phá hoại nền độc lập thống nhất của ta, đặc biệt là sau khi cuộc đàm phán ở Phông-ten-nơ-bơ-lô tan vỡ, ngày 19 tháng 10 năm (LUAN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ