PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Sự phát triển với tốc độ chóng mặt của các “con rồng Châu Á” _ Một hiện tượng thần kỳ cuối thế kỷ XX đã khiến các chiến lược gia hàng đầu thế giới phải tập trung tìm lời giải đáp và họ đã tìm ra, đó là triết lý: “Đầu tư cho con người là đầu tư cho sự phát triển nhanh chóng kinh tế xã hội”. Khuyến cáo của 74 nhà khoa học được giải Nobel cũng vậy: “Giáo dục cần được ưu tiên tuyệt đối trong mọi ngân sách để góp phần nâng cao khả năng sáng tạo của con người… Phải làm cho các nước đang phát triển vươn tới khoa học và kỹ thuật để giúp họ làm chủ tương lai của mình.” [3/ 48] Thời đại ngày nay, con người tri thức đã trở thành nguồn lực quan trọng nhất và là tài nguyên vô tận nhất của mọi quốc gia như Alvin Toffler khẳng định: “ Mọi nguồn lực– kể cả tài nguyên thiên nhiên đều có thể bị khai thác đến cạn kiệt. Chỉ có trí tuệ con người là không bao giờ cạn kiệt, vì tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết” [1/ 41].
Những năm cuối thế kỷ XX, các quốc gia bước vào cuộc chạy đua quyết liệt về kinh tế trong đó có cuộc cạnh tranh về chất lượng giáo dục– đào tạo. Theo thống kê, lợi ích của đầu tư giáo dục là rất lớn về mặt kinh tế. Mỹ đầu tư cho giáo dục 1 USD thì lời tới 4 USD, Nhật đầu tư 1 USD lãi 10 USD. Tại Mỹ, hàng năm ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục chiếm 28%.
Các nước phát triển không dưới 25% , các nước đang phát triển ở châu Á đầu tư hàng năm cho giáo dục là khoảng 20%. Xin trích dẫn lời khuyên của nhóm tương lai học Megatrends: “Các quốc gia trong vòng cung Thái Bình Dương (TBD) sẽ vươn dậy giống như một châu Mỹ trẻ trung, năng động trước đây, nhưng trên một quy mô lớn hơn nhiều về kinh tế, vòng cung TBD đang trải qua một thời kỳ bành trướng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử tăng trưởng với tốc độ gấp 5 lần tăng trưởng của cách 16 mạng công nghiệp… Giáo dục là mũi nhọn tranh đua của vòng cung TBD. Trong trật tự kinh tế mới, nước nào đầu tư nhiều nhất vào giáo dục, nước đó sẽ có sự cạnh tranh mạnh nhất… vòng cung TBD đã chứng tỏ cho mọi người thấy rằng một nước nghèo cũng có thể phát triển được, miễn là nó đầu tư đầy đủ vào những nguồn lực con người của nó”. [3/ 48] Nắm bắt được xu thế thời đại, từ những năm 1988, từ đại hội Đảng lần thứ VI cho đến Đai hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006), Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định một lần nữa quan điểm đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam.
Trên phương diện nhà nước, Chính phủ cũng đã ra nghị quyết về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020, mà mục tiêu chung là: “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được bước chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân. Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [9/ 18]. Quán triệt các quan điểm, chủ trương trên, giáo dục đại học Việt Nam đã từng bước đổi mới và việc chuyển đổi hệ thống đào tạo sang học chế tín chỉ được xem là bước đi vừa mang tính tất yếu, tiên phong với sứ mạng đột phá, vừa có tầm quan trọng đối với công cuộc đổi mới giáo dục đại học. Việc chuyển đổi hệ thống đào tạo sang học chế tín chỉ đã được nêu ra và thảo luận ở nhiều hội nghị các cấp và một số trường đại học đã tiên phong vào lĩnh vực này.
Trường Đại học Bách Khoa – HCM(1993), Đại học Đà Lạt (1994), Đại học Khoa Học Tự Nhiên Tp. Trường ĐH KHXH & NV - ĐHQG Tp.HCM thực hiện việc chuyển đổi hệ thống đào tạo sang học chế tín chỉ không những thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, nhà nước mà còn là giải quyết những mâu thuẫn, bất cập của chính mình. 17 Đó là mâu thuẫn giữa việc phải mở rộng ngành nghề, tăng quy mô đào tạo đáp ứng nhu cầu kinh tế – xã hội đồng thời lại bảo đảm chất lượng đào tạo để cung cấp cho thị trường lao động nguồn nhân lực kỹ thuật cao trong khi quy mô đào tạo của trường còn nhỏ, phân tán, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, đặc biệt là chất lượng đào tạo chưa tương xứng với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho xã hội. Mặt khác, các trường đại học thành viên của ĐHQG Tp.HCM như ĐHBK, ĐHKHTN cũng đã chuyển đổi và tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ từ lâu.
Vì vậy, việc chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ ở trường ĐHKHXH&NV là cấp thiết và công việc đầu tiên, cấp bách đối với trường hiện nay là phải nghiên cứu, thực hiện việc chuyển đổi hệ thống đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ. Đây chính là một trong những bước đi tất yếu và mang tính đột phá trên con đường đổi mới toàn diện của trường. Từ những vấn đề đặt ra trên, chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng học chế tín chỉ ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Tp.HCM, thực trạng, lộ trình, giải pháp với mong muốn góp phần vào những vấn đề lý luận và thực tiễn việc chuyển đổi hệ thống đào tạo sang học chế tín chỉ ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài.
Hình thức đào tạo tín chỉ ra đời vào nửa cuối thế kỷ XIX, sau đó nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trong các trường đại học ở Mỹ vào đầu thề kỷ XX. Cho đến nay, rất nhiều các quốc gia lần lượt áp dụng hình thức này trong hệ thống giáo dục của mình như các nước ở Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippine, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan. Vì thế, việc nghiên cứu về mặt lý luận, tổng kết về mặt thực tiễn hình thức đào tạo tín chỉ là hết sức cần thiết và được rất nhiều nhà quản lý, nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm. Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hình thức đào tạo tín chỉ như: về lịch sử hình thành, phát triển, tính chất, chức năng, vai trò và hiệu quả của hình thức đào tạo tín chỉ; về mô hình chung của một hệ thống đào tạo theo học chế tín chỉ; về việc tổ chức, thực hiện hệ 18 thống tín chỉ ở một trường đại học; về vai trò, trách nhiệm của người giảng viên và phương pháp giảng dạy trong hệ thống đào tạo tín chỉ.
Ngoài ra, thời gian qua ở Việt Nam còn có rất nhiều báo cáo khoa học, tham luận về học chế tín chỉ trong các hội nghị, hội thảo khoa học chuyên đề về lĩnh vực này. Có thể tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài này theo các lĩnh vực sau: 2. Về lĩnh vực lịch sử hình thành, phát triển của học chế tín chỉ Trước hết là các công trình nghiên cứu của các nhà quản lý giáo dục ở các trường đại học Mỹ, tiêu biểu là báo cáo khoa học của Jessica M. Shedd về lịch sử hình thành và phát triển của tín chỉ học tập (The history of the Student Credit Hour).
Công trình nghiên cứu của Raubinger Rowe về các giai đoạn phát triển trong lịch sử của hình thức tín chỉ.Cooke về vai trò của quĩ Carnegie đối với việc phát triển giảng dạy (A History of the Carnegier Foundation for the Advancement of Teaching; A Refort to the Carnegier Foundation for the Advancement of Teaching). Các báo cáo của Thomas Ehrlich về tín chỉ học tập và khối lượng công việc tổ chức học tập của khoa đào tạo (The Credit Hour and Faculty Instructional Workload). Chuyên khảo của Jane V.Wellman về sự xác tín của tín chỉ học tập. Trong các công trình, báo cáo trên, những vấn đề mà đề tài quan tâm nhất là: Tín chỉ là gì? Nguyên nhân, động lực của sự ra đời, phát triển của học chế tín chỉ ở Mỹ; Các giai đoạn phát triển, tăng trưởng của học chế tín chỉ trong lịch sử giáo dục đại học ở Mỹ từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nay; Vai trò của việc đào tạo theo học chế tín chỉ đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục ở trường đại học; Những điểm mạnh và những hạn chế của việc đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học.
Những công trình nghiên cứu khoa học trên mang lại một bức tranh khá đầy đủ về lịch sử hình thành, phát triển, các giai đoạn tiến triển , nguyên nhân, động lực của tín chỉ và học chế tín chỉ ở các trường đại học Mỹ. Chẳng hạn sự xuất hiện của hình thức đào tạo theo tín chỉ ở Mỹ vào cuối thế kỷ XIX với mụch đích ban đầu “nhằm giúp 19 các cán bô quản lý tuyển sinh hiểu rõ hơn về chương trình trung học…để ghi lại và đánh giá khối lượng công việc cũng như tính hiệu quả về mặt tổ chức” [39/122] sau đó trở thành thước đo học tập của sinh viên đồng thời là thước đo hiệu quả và thời gian giảng dạy của giảng viên. Đương nhiên nó cũng là thước đo của việc quản lý ngân sách, báo cáo dữ liệu. Về thực chất, chức năng, vai trò, mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ Công trình nghiên cứu của Terrence C.
Arnove và Margaret Sution về tín chỉ với một chương trình kiểm soát quốc gia đối với giáo dục đại học. (Tín chỉ, chương trình đào tạo và kiểm soát giáo dục đại học: các nhận định xuyên quốc gia) Báo cáo chuyên đề của TS. Đỗ Huy Thịnh về “Hệ thống tín chỉ trong giáo dục đại học Mỹ”. Bài viết về: “giáo dục đại học Nhật Bản và những cải cách.
Tham luận trong hội nghị khoa học của GS. Trần Văn Đoàn, Đại học Quốc gia Đài Loan về “Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ”…vv.