CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Khái quát về phần Âm vần trong dạy Tiếng Việt ở Tiểu học 1. Vị trí, nhiệm vụ của dạy Âm vần Việc học Âm vần có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, quá trình học âm vần giúp học sinh chiếm lĩnh và làm chủ một công cụ mới để sử dụng trong học tập và giao tiếp đó chính là chữ viết ghi âm Tiếng Việt Âm vần có nhiệm vụ hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng chữ viết trong học tập và giao tiếp.
Khi biết đọc, biết viết, học sinh có thể cảm nhận được hiện thực cuộc sống một cách đầy đủ và sâu sắc hơn. Có thể diễn đạt một cách rõ ràng những nhận thức, tình cảm của mình, các em có điều kiện nghe thầy cô giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo,… từ đó có điều kiện học tốt các môn khác trong chương trình. Các nguyên tắc, phương pháp dạy Âm vần Các nguyên tắc dạy Âm vần ❖ Nguyên tắc phát triển lời nói Nguyên tắc phát triển lời nói được đặt ra xuất phát từ chức năng cơ bản của ngôn ngư: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất. Chức năng này của ngôn ngữ đã quy định mục tiêu cơ bản của môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học là rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để phát triển năng lực học tập và giao tiếp cho học sinh.
Từ mục tiêu này, chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học được biên soạn theo hướng giao tiếp: phải lấy giao tiếp vừa làm mục đích, vừa làm cách thức dạy học Tiếng Việt. Việc dạy Tiếng Việt đều phải tuân thủ nguyên tắc phát triển lời nói. Khi dạy Âm vần giáo viên cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản của nguyên tắc phát triển lời nói sau: Phải xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, đặt các đơn vị ngôn ngữ đang được xem xét vào hoạt động (ngữ cảnh) để tìm hiểu. Trong dạy Âm 8 vần, yêu cầu này được tuân thủ một cách triệt để: Âm/vần được thể hiện trong tiếng, trong từ, trong câu.
Điều này có thể thấy rõ khi phân tích bất kì bài Âm vần nào. Ví dụ: Trong bài 36 SGK Tiếng Việt tập 1 bộ Cánh Diều dạy vần am – ap thì vần am được dạy trong tiếng cam và trong từ quả cam, quả trám, vạm vỡ; còn vần ap được dạy trong tiếng đạp, trong từ xe đạp, Tháp Rùa, múa sạp. Việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy giao tiếp làm đích, các bài được sắp xếp theo trật tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Tổ chức tốt hoạt động nói cho học sinh khi dạy Tiếng Việt, cần phải sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạy học chủ đạo.
Coi học sinh là chủ thể hoạt động, tạo mục đích động cơ học tập cho các em. Giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh được thực hành nhiều và bằng những hình thức khác nhau: đánh vần, đọc trơn, nghe, nói,… kết hợp sử dụng sách giáo khoa và vở tập viết. ❖ Nguyên tắc phát triển tư duy Chức năng cơ bản thứ hai của ngôn ngữ là: “ Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy”. Ngôn ngữ luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy và làm phương tiện tư duy của con người, đó chính là cơ sở của nguyên tắc này khi vận dụng trong dạy Tiếng Việt.
Nguyên tắc phát triển tư duy còn xuất phát từ chính mục đích, nhiệm vụ của việc dạy tiếng trong trường Tiểu học đó là góp phần bồi dưỡng năng lực và phẩm chất tư duy cho học sinh. Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc phát triển tư duy trong dạy Âm vần: Phải chú ý rèn luyện các thao tác tư duy và bồi dưỡng các năng lực, phẩm chất tư duy cho học sinh như: so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp,. Ví dụ, các bài dạy âm, vần mới có nội dung tổng hợp các âm thành vần, vần với âm đầu và thanh điệu thành tiếng, tiếng và nội dung phân tích tiếng thành âm, vần, thanh,… các thao tác tìm điểm tương đồng, khác biệt giữa các âm, vần, tiếng cũng làm cho năng lực và phẩm chất tư duy của học sinh phát triển. Giúp cho học sinh thông hiểu ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, nắm được nội dung cần nói, viết và tạo điều kiện để các em thể hiện những suy nghĩ của mình bằng ngôn ngữ.
Trong sách giáo khoa không phải mọi từ học sinh đều quen thuộc 9 nên nếu muốn các em thực hiện tốt nhiệm vụ học tập giáo viên cần giúp đỡ học sinh hiểu đúng các từ ngữ này. Các bài luyện nói theo chủ đề phải có nội dung gần gũi với cuộc sống của các em, giáo viên chủ động xây dựng hệ thống câu hỏi để gợi ý, dẫn dắt; câu hỏi cần dễ hiểu, tường minh, phù hợp với mọi học sinh. Giáo viên cần đánh giá, nhận xét rõ ràng, khuyến khích, khơi gợi hứng thú học tập ở học sinh góp phần nâng cao phẩm chất, năng lưc học tập của các em. ❖ Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh bắt nguồn từ vị trí đặc biệt của học sinh trong dạy học.
Học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy vừa là chủ thể của hoạt động học, là nhân tố trung tâm trong hoạt động dạy học. Những đặc điểm cần chú ý trong dạy âm vần là đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1 và trình độ Tiếng Việt của các em khi mới đến trường. Khi dạy Âm vần cần đảm bảo: Cần nắm vững đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh lớp 1. Với học sinh 6-7 tuổi, khả năng tập trung chú ý của các em chưa cao, tư duy cụ thể là chủ yếu, khả năng tổng hợp khái quát còn hạn chế.
Do đó, trong giờ Âm vần, giáo viên cần chú ý thay đổi hình thức hoạt động trí tuệ, xen kẽ các hoạt động vui chơi vào giữa hai tiết học. Với học sinh lớp 1, các em vừa bước vào một hoạt động mới đó là hoạt động học tập vì vậy giáo viên cần chú ý thay đổi các hình thức dạy học để tránh làm cho trẻ nhàm chán không hứng thú với việc học tập, dễ mệt mỏi. Chú ý đúng mức tính vừa sức trong dạy Âm vần. Giáo viên cần chủ động tìm hiểu trình độ học sinh trong lớp để lựa chọn cách dạy học cho phù hợp, tìm hiểu trình độ Tiếng Việt của các em để tận dụng những kinh nghiệm vốn có vào việc học tiếng trong nhà trường.
Nếu học sinh lần đầu học Tiếng Việt thì giáo viên cần sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu trong khi dạy nghĩa của từ. ❖ Nguyên tắc trực quan trong dạy Âm vần Lê nin đã từng nói rằng: “Con đường nhận thức chung của loài người là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” vậy nên nguyên tắc trực quan không phải là nguyên tố mới trong dạy học nói chung hay dạy Tiếng Việt nói riêng. Tuy 10 nhiên, trong dạy Âm vần, nguyên tắc này vô cùng quan trọng nó đáp ứng những đòi hỏi cần có ở lứa tuổi học sinh khi mới bước chân vào nhà trường. Với học sinh lớp 1, các kiến thức trừu tượng sẽ dễ hiểu hơn khi được diễn đạt một cách trực quan bằng các mô hình, tranh ảnh.
Các thao tác thực hành của học sinh sẽ trở nên thành thạo hơn khi các em được quan sát các mẫu, được sử dụng các đồ dùng dạy học thích hợp, được nói, được làm, được nhìn, được nghe, được viết. Yêu cầu của nguyên tắc trực quan khi dạy Âm vần: Phương tiện trực quan phải đa dạng về kiểu loại, phải có tác dụng tích cực trong việc hình thành kiến thức, kĩ năng cho học sinh. Phương tiện trong dạy Âm vần rất đa dạng có thể là tranh ảnh, vật thật, bộ chữ thực hành Tiếng Việt, chữ mẫu trong SGK, trong vở tập viết,…. Tất cả các phương tiện trực quan này phải được thiết kế đảm bảo tính khoa học, tính thẩm mĩ, có tác dụng hỗ trợ tích cực, nâng cao hiệu quả học tập của học sinh.
Các phương tiện dạy Âm vần cần được phối hợp linh hoạt, phù hợp với từng bước trong một tiết học. Điều quan trọng khi sử dụng phương tiện dạy học là cần xác định rõ mục đích sử dụng, sử dụng sao cho hiệu quả. Tuy nhiên, giáo viên cần chú ý không làm dụng các phương tiện dạy học. Các phương tiện trực quan, kể cả các phương tiện hiện đại rất cần thiết trong dạy học nhưng đó chỉ là phương tiện hỗ trợ cho hoạt động dạy học nên khi sử dụng cần lưu ý để tránh rơi vào tình trạng phô diễn, trình diễn đồ dùng.
Các phương pháp dạy Âm vần ❖ Phương pháp phân tích ngôn ngữ Phương pháp phân tích ngôn ngữ là phương pháp được sử dụng một cách có hệ thống để xem xét các mặt của ngôn ngữ. Hoạt động phân tích ngôn ngữ bao gồm việc quan sát các hiện tượng ngôn ngữ, tìm điểm tương đồng, khác biệt giữa chúng, sắp xếp các đơn vị ngôn ngữ theo một trật tự nhất định. Trong quá trình dạy Âm vần, giáo viên cần phối hợp một cách hợp lí các thao tác phân tích – tổng hợp. Phân tích là tách các hiện tượng ngôn ngữ theo cấp độ từ - tiếng – vần (âm).
Tổng hợp là ghép các yếu tố ngôn ngữ đã được phân tích trở về dạng ban đầu. Các thao tác tách và ghép này phải được phối hợp nhuần 11 nhuyễn kết hợp đánh vần các vần, các tiếng và đọc trơn. Phương pháp phân tích ngôn ngữ được áp dụng khi dạy bài mới (tiết 1). Giáo viên tổ chức cho học sinh phân tích, tổng hợp âm/vần – tiếng – từ.
Sau khi học sinh nắm rõ được âm/vần mới tiến hành tổng hợp trở lại và đọc thành tiếng. Phương pháp này có thể sử dụng đối với các bài tập ứng dụng bằng cách cho học sinh tìm tiếng có chứa âm/ vần vừa được học hoặc đang ôn tập, Phương pháp phân tích ngôn ngữ giúp học sinh nắm chắc bài học một cách khoa học, tiếp thu bài có hệ thống, đặc biệt phát triển ở các em những thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu. ❖ Phương pháp giao tiếp Phương pháp giao tiếp là phương pháp hoạt động dựa vào lời nói và những hoạt động lời nói. Phương pháp này gắn liền với phương pháp luyện tập theo mẫu.