Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp ngành Giáo dục Tiểu học của tác giả Trần Mỹ Anh (Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, năm 2020) được triển khai trong bối cảnh Chương trình Giáo dục phổ thông tại Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển giao căn bản từ phương thức truyền thụ nội dung một chiều sang mô hình phát triển năng lực và phẩm chất người học. Theo định hướng mới, người học được xác định là trung tâm của quá trình dạy học, trong khi giáo viên đóng vai trò hỗ trợ và tổ chức các hoạt động học tập. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – vốn trước đây chỉ phổ biến ở cấp đại học dưới hình thức các chuyến đi thực tế – bắt đầu được chú ý ở cấp phổ thông nhưng phần lớn vẫn còn mang tính hình thức, chưa được vận dụng bài bản vào từng môn học cụ thể. Trong khi đó, môn Tiếng Việt ở lớp 1, đặc biệt là phân môn Âm vần, giữ vai trò nền tảng trong việc giúp học sinh chiếm lĩnh công cụ chữ viết, rèn luyện bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Năm học 2020–2021 cũng là năm đầu tiên triển khai sách giáo khoa mới cho lớp 1 theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy âm vần và yêu cầu đổi mới phương pháp, tác giả lựa chọn nghiên cứu việc xây dựng hoạt động trải nghiệm trong phân môn Âm vần cho học sinh lớp 1.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Bổ sung cơ sở lí luận về phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học thông qua việc hệ thống hóa các tri thức về hoạt động trải nghiệm, từ đó đề xuất các yêu cầu, xây dựng quy trình và cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm vào thực tiễn dạy Âm vần cho học sinh lớp 1.
  2. Khẳng định khả năng và tính hiệu quả của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần nhằm kích thích tính tích cực, chủ động, hứng thú học tập và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm ba nội dung chính được văn bản xác định:

  1. Xác định cơ sở lí luận của việc thiết kế, tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần cho học sinh tiểu học.
  2. Xác định cơ sở thực tiễn của việc thiết kế, tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần thông qua khảo sát sách giáo khoa và điều tra thực tế.
  3. Đề xuất một số hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường tiểu học, từ đó rút ra nhận xét và kết luận khoa học.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy trình thiết kế và tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần cho học sinh tiểu học. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian được thực hiện tập trung tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân (quận Cầu Giấy, Hà Nội) cùng quá trình quan sát thực tế tại Trường Song ngữ liên cấp Greenfield. Về mặt nội dung chuyên môn, đề tài giới hạn nghiên cứu trong phạm vi phần Âm vần thuộc bộ sách giáo khoa Tiếng Việt 1 Cánh Diều, trong mốc thời gian chuyển giao chương trình giáo dục năm học 2020–2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lí luận dựa trên sự kết hợp giữa lí luận dạy học bộ môn Tiếng Việt và các mô hình giáo dục trải nghiệm hiện đại. Về phương diện dạy học Âm vần ở tiểu học, tác giả căn cứ vào bốn nguyên tắc sư phạm cốt lõi:

  • Nguyên tắc phát triển lời nói: Đặt các đơn vị ngôn ngữ (âm, vần, tiếng, từ, câu) vào hoạt động hành chức và ngữ cảnh giao tiếp cụ thể để rèn luyện kỹ năng.
  • Nguyên tắc phát triển tư duy: Rèn luyện các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp ngữ âm và thông hiểu ý nghĩa từ ngữ.
  • Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh: Phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi 6–7 tuổi và vốn ngôn ngữ ban đầu của trẻ.
  • Nguyên tắc trực quan: Sử dụng đa dạng các phương tiện trực quan như tranh ảnh, vật thật, bộ chữ thực hành nhằm cụ thể hóa các đơn vị ngôn ngữ trừu tượng.

Đồng thời, đề tài tổng hợp ba phương pháp dạy học Âm vần truyền thống gồm phương pháp phân tích ngôn ngữ (tách - ghép các đơn vị từ - tiếng - vần/âm), phương pháp giao tiếp và phương pháp luyện tập theo mẫu.

Về cơ sở lí thuyết hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu kế thừa quan điểm từ Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các công trình của Bùi Ngọc Diệp, nhóm tác giả Nguyễn Thị Liên - Nguyễn Thị Hằng - Tưởng Duy Hải - Đào Thị Ngọc Minh, Đỗ Tiến Đạt, Võ Trung Minh và bộ sách của Nguyễn Quốc Vương. Đặc biệt, cấu trúc quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm trong phân môn Âm vần được tác giả xây dựng dựa trên mô hình học tập trải nghiệm của David A. Kolb (2015). Đề tài cũng viện dẫn các định hướng tổ chức hoạt động từ Mô hình trường học mới (GPE-VNEN) và giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt của Lê Phương Nga.

Để thu thập và xử lí thông tin, tác giả sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu chính:

  1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Thu thập, phân loại, phân tích, tổng hợp các văn kiện giáo dục, sách báo chuyên ngành, giáo trình và các công trình luận án, luận văn liên quan để hình thành khung lí thuyết.
  2. Phương pháp nghiên cứu khảo sát điều tra: Sử dụng phiếu hỏi điều tra đối với giáo viên và học sinh lớp 1 tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân nhằm thu thập dữ liệu về việc sử dụng sách giáo khoa mới và nhu cầu áp dụng hoạt động trải nghiệm.
  3. Phương pháp so sánh: Đối chiếu cấu trúc, ngữ liệu, hình thức trình bày và dung lượng giữa sách giáo khoa Tiếng Việt 1 bộ Cánh Diều với sách giáo khoa Tiếng Việt 1 năm 2002 và bộ Kết nối tri thức với cuộc sống.
  4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án tích hợp hoạt động trải nghiệm và tổ chức dạy thực nghiệm tại 2 lớp 1 thuộc Trường Tiểu học Nghĩa Tân nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu gồm tài liệu văn bản quy phạm và sách giáo khoa (sách Tiếng Việt 1 bộ Cánh Diều do NXB Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống của NXB Giáo dục Việt Nam, SGK Tiếng Việt 1 năm 2002) cùng dữ liệu khảo sát thực tế từ 10 giáo viên và 30 học sinh tại địa bàn thực tập.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về dạy học Âm vần và hoạt động trải nghiệm, đồng thời phân tích tâm sinh lí lứa tuổi lớp 1 và khảo sát thực trạng giảng dạy tại cơ sở.

Về mặt lí luận, tác giả khẳng định Âm vần là nội dung khởi đầu trang bị phương tiện chữ viết để học sinh tiếp nhận tri thức các môn học khác. Ở lứa tuổi 6–7 tuổi, não bộ học sinh đã đạt khoảng 90% khối lượng não người lớn, khả năng phối hợp vận động tay - mắt đã hình thành thuận lợi cho việc tập viết. Tuy nhiên, hoạt động chủ đạo của trẻ vừa chuyển từ vui chơi sang học tập, tri giác mang nặng tính cảm xúc, khả năng chú ý không chủ định chiếm ưu thế và chỉ duy trì tập trung trong khoảng 30–35 phút. Trẻ ghi nhớ trực quan - hình tượng tốt hơn ghi nhớ từ ngữ - logic. Vì vậy, việc áp dụng các phương pháp trải nghiệm thông qua trò chơi, sắm vai, làm việc nhóm (theo quy trình 3 bước: chuẩn bị, thực hiện, đánh giá) và dạy học dự án là phù hợp với tiến trình nhận thức của lứa tuổi.

Về mặt thực tiễn, tác giả khảo sát phân phối chương trình và cấu trúc sách giáo khoa mới. Sách Tiếng Việt 1 bộ Cánh Diều dành thời lượng dạy Âm vần gồm 2 tiết/bài, 4 bài/tuần, cấu trúc bài học trải dài từ Bài 1 (âm a, c) đến Bài 137 (vần ít gặp). Mỗi tuần có 2 tiết tập viết riêng biệt vào vở giúp giảm tải áp lực viết bảng con kết hợp viết vở cùng lúc; đồng thời xuất hiện hai dạng bài mới là "Tự đọc sách báo" và "Góc sáng tạo", cùng hơn 1800 hình ảnh minh họa.

Khảo sát thực trạng tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân cho thấy chất lượng đọc viết đại trà cuối năm cơ bản đạt yêu cầu đọc trơn câu đoạn 20 tiếng, nhưng nhiều học sinh vẫn gặp khó khăn khi ghép vần và đọc trơn. Hoạt động trải nghiệm trong phân môn Âm vần hầu như chưa được triển khai đúng nghĩa, giáo viên chủ yếu truyền đạt kiến thức thụ động từ sách giáo khoa do e ngại tốn thời gian, công sức và chi phí tổ chức.

Chương 2: Xây dựng hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 1 trong dạy học Âm vần

Chương 2 là phần trọng tâm đề xuất giải pháp sư phạm, đưa ra các yêu cầu thiết kế, quy trình thực hiện và hình thức tổ chức cụ thể.

Tác giả đề ra ba yêu cầu cốt lõi khi thiết kế hoạt động trải nghiệm:

  • Đảm bảo khung logic của các hoạt động trong một chủ đề: Giáo viên phải xác định rõ mục tiêu, trật tự hoạt động từ khai thác kinh nghiệm có sẵn đến hình thành kinh nghiệm mới và sáng tạo sản phẩm.
  • Đảm bảo sự trải nghiệm của học sinh: Học sinh phải được trực tiếp hành động một cách tự giác; trải nghiệm phải kết hợp đầy đủ hai yếu tố hành động và cảm xúc tích cực.
  • Đảm bảo môi trường để học sinh sáng tạo: Xây dựng bầu không khí dân chủ, cởi mở, khuyến khích tranh luận và tôn trọng sự khác biệt trong ý tưởng của học sinh.

Dựa trên chu trình của David A. Kolb, tác giả cụ thể hóa quy trình 4 bước tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Âm vần:

  1. Bước 1: Giới thiệu hoạt động trải nghiệm: Giáo viên nêu tên, mục tiêu, nội dung bằng các biểu tượng, tranh ảnh hoặc mô hình trực quan.
  2. Bước 2: Chuyển giao nhiệm vụ trải nghiệm: Phổ biến nhiệm vụ rõ ràng theo nhóm hoặc cá nhân, quy định thời gian, tiêu chí đánh giá và giải đáp thắc mắc.
  3. Bước 3: Tổ chức hoạt động trải nghiệm: Triển khai theo chu trình 4 giai đoạn nhỏ:
    • Trải nghiệm cụ thể (khởi động qua trò chơi, câu hỏi động não, tình huống thực tế để kích hoạt kinh nghiệm sẵn có);
    • Quan sát, đối chiếu, phản hồi (học sinh thảo luận, giáo viên quan sát định hướng);
    • Hình thành tri thức mới (tổng hợp các ý tưởng để chốt kiến thức âm vần mới);
    • Vận dụng tri thức mới (thực hành ứng dụng âm vần vào đời sống thực tế).
  4. Bước 4: Đánh giá hoạt động trải nghiệm: Nhận định sự tiến bộ về năng lực, phẩm chất của học sinh và củng cố các cảm xúc tích cực trong học tập.

Về hình thức tổ chức, tác giả đề xuất bốn hình thức phù hợp: đóng vai (cho học sinh ngẫu hứng xử lí tình huống giao tiếp, ví dụ xử lí mâu thuẫn bạn bè trong Bài 65 vần iên - iêt), sân khấu hóa, sử dụng tình huống giao tiếp giả định và tổ chức học tập ngoài không gian lớp học.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Nội dung chương 3 ghi nhận việc tổ chức thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân (quận Cầu Giấy, Hà Nội). Nghiên cứu tiến hành áp dụng các giáo án bài dạy Âm vần có thiết kế hoạt động trải nghiệm trên đối tượng 2 lớp 1 của trường nhằm kiểm tra mức độ tiếp thu bài học, sự tự tin và hứng thú học tập của học sinh so với phương pháp dạy học truyền thống.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã khảo sát thực trạng bằng công cụ phiếu hỏi tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân trên mẫu gồm 10 giáo viên khối 1 và 30 học sinh lớp 1, thu được các dữ liệu định lượng cụ thể:

Tiêu chí khảo sát Nhóm đối tượng Kết quả ghi nhận từ văn bản
Đánh giá nội dung SGK Tiếng Việt 1 Cánh Diều Giáo viên (n = 10) 70% đánh giá nội dung hấp dẫn, phù hợp, gây hứng thú; 30% cho rằng tiến trình quá nhanh, một số ngữ liệu khó giải thích
Đánh giá hình thức SGK Tiếng Việt 1 Cánh Diều Học sinh (n = 30) 100% đánh giá sách có tranh ảnh đẹp mắt, ấn tượng; yêu thích từ ngữ và hình ảnh minh họa
Nhận thức về hoạt động trải nghiệm Giáo viên (n = 10) 99% biết đến việc áp dụng hoạt động trải nghiệm trong giảng dạy; đa số thừa nhận ít áp dụng do ngại tốn thời gian, công sức, kinh phí
Nhu cầu học tập qua hoạt động trải nghiệm Học sinh (n = 30) 100% học sinh hào hứng và yêu thích việc học Âm vần qua hoạt động trải nghiệm dù trước đó chưa từng được tham gia

Về mặt giải pháp, khóa luận đóng góp:

  • Xây dựng quy trình sư phạm 4 bước gắn kết lí thuyết của David A. Kolb vào cấu trúc bài học Âm vần lớp 1, giúp giáo viên có công cụ triển khai cụ thể thay vì chỉ tổ chức hoạt động trải nghiệm dưới dạng ngoại khóa.
  • Xác định hệ thống 4 hình thức tổ chức thực hành ngôn ngữ linh hoạt (đóng vai, sân khấu hóa, tình huống giả định, hoạt động ngoài lớp học) kèm ví dụ bài học cụ thể trong bộ sách Cánh Diều.
  • Khóa luận đóng góp về mặt lí luận cho phương pháp dạy học Tiếng Việt tiểu học khi chứng minh tính khả thi của việc tích hợp hoạt động trải nghiệm vào ngay bên trong giờ học chính khóa phân môn Âm vần, khắc phục tính thụ động của phương pháp truyền giảng truyền thống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thẳng thắn chỉ ra những hạn chế nhất định xuất phát từ điều kiện thực hiện:

  • Năng lực nghiên cứu của tác giả còn có hạn nên một số khía cạnh chuyên môn chưa được khai thác triệt để.
  • Phạm vi khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm còn hẹp, mới dừng lại ở quy mô 2 lớp 1 tại một trường tiểu học (Trường Tiểu học Nghĩa Tân), chưa triển khai mở rộng trên nhiều địa bàn trường học có điều kiện cơ sở vật chất và đối tượng học sinh khác nhau.
  • Nghiên cứu diễn ra vào năm đầu tiên áp dụng bộ sách giáo khoa mới, trong điều kiện một số ngữ liệu của sách Cánh Diều vẫn đang nhận nhiều ý kiến tranh luận trái chiều từ thực tế dạy học.

Hướng mở tiếp theo của đề tài được định hướng vào việc tiếp tục hoàn thiện, mở rộng hệ thống kế hoạch bài dạy trải nghiệm cho toàn bộ các bài âm vần còn lại trong chương trình, đồng thời tiến hành thực nghiệm diện rộng để đánh giá sâu hơn về mức độ chuyển biến kỹ năng đọc - viết của học sinh.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng giáo án đổi mới theo định hướng phát triển năng lực, đặc biệt là cách vận dụng mô hình Kolb vào phân môn Tiếng Việt.
  • Giáo viên tiểu học đang giảng dạy lớp 1 (đặc biệt các trường sử dụng bộ sách Cánh Diều): Cung cấp khung quy trình 4 bước và các gợi ý bài tập tình huống, sắm vai, giúp đa dạng hóa phương pháp lên lớp mà không phá vỡ cấu trúc thời lượng tiết dạy.
  • Cán bộ chỉ đạo chuyên môn cấp tiểu học: Tham khảo dữ liệu điều tra thực trạng và đánh giá khách quan về những khó khăn, thuận lợi khi triển khai chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 mới tại cơ sở giáo dục.

Chương 1 (mục phân tích đặc điểm tâm lí học sinh lớp 1 và khảo sát hai bộ SGK mới) cùng Chương 2 (toàn bộ quy trình 4 bước và kỹ thuật đóng vai xử lí tình huống) là những phần có giá trị ứng dụng thực tiễn cao nhất.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng mô hình lí thuyết nào để thiết kế quy trình hoạt động trải nghiệm trong dạy Âm vần?
Tác giả dựa trên mô hình học tập trải nghiệm của David A. Kolb (2015) để đề xuất quy trình dạy học 4 bước gồm: Giới thiệu hoạt động trải nghiệm; Chuyển giao nhiệm vụ trải nghiệm cho học sinh; Tổ chức hoạt động trải nghiệm (gồm 4 pha: trải nghiệm cụ thể, quan sát - phản hồi, hình thành tri thức mới, vận dụng); Đánh giá hoạt động trải nghiệm.

Kết quả khảo sát giáo viên tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân về bộ sách Cánh Diều cho thấy điều gì?
Khảo sát 10 giáo viên lớp 1 ghi nhận 70% đánh giá sách có nội dung hấp dẫn, gây hứng thú cho học sinh; tuy nhiên có 30% giáo viên cho rằng tiến trình sắp xếp bài học đôi khi quá nhanh khiến học sinh khó theo kịp, và một số ngữ liệu chưa thật sự phù hợp với nhận thức lứa tuổi lớp 1.

Vì sao giáo viên tiểu học còn e ngại trong việc áp dụng hoạt động trải nghiệm vào phân môn Âm vần?
Số liệu điều tra cho thấy 99% giáo viên đều biết đến hoạt động trải nghiệm, nhưng rất ít người vận dụng vào bài dạy âm vần vì quan niệm hoạt động trải nghiệm chủ yếu là tham quan thực tế ngoài trời, đồng thời việc thiết kế một tiết học trải nghiệm đòi hỏi đầu tư quá nhiều thời gian, công sức và kinh phí tổ chức.

Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 Cánh Diều có điểm gì khác biệt về phân bổ thời lượng tập viết so với sách năm 2002?
Nếu chương trình năm 2002 yêu cầu học sinh vừa viết bảng con vừa viết vở ngay trong cùng một tiết học âm vần, thì sách Cánh Diều bố trí riêng mỗi tuần 2 tiết dành riêng cho hoạt động tập viết vào vở, giúp học sinh có thời gian thực hành thoải mái và giảm áp lực thực hiện quá nhiều thao tác trong một tiết học.

Ví dụ thực tế nào được tác giả đưa ra để minh họa cho hình thức đóng vai trong dạy Âm vần?
Tác giả minh họa qua Bài 65 dạy vần iên - iêt (trang 118–119 SGK Cánh Diều): Giáo viên đưa ra tình huống mâu thuẫn giữa hai bạn nhỏ trong giờ học, hướng dẫn học sinh thảo luận và đóng vai để diễn lại sự việc, tự sử dụng ngôn ngữ của mình để xử lí tình huống thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào văn bản mẫu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Mỹ Anh đã hệ thống hóa cơ sở lí luận và làm rõ thực trạng tổ chức dạy học Âm vần cho học sinh lớp 1 tại Trường Tiểu học Nghĩa Tân trong bối cảnh đổi mới chương trình và sách giáo khoa năm 2020. Nghiên cứu đóng góp thiết thực qua việc xây dựng quy trình sư phạm 4 bước dựa trên mô hình học tập trải nghiệm của David A. Kolb kết hợp bốn hình thức tổ chức dạy học trực quan, sinh động. Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên tiểu học và sinh viên sư phạm trong việc nâng cao hứng thú, phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp đầu cấp.