mở đầu của phần này. Tuy nhiên, câu kết đề cũng có thể xuất hiện ở giữa hay cuối phần Kết luận. Tiêu đề của văn bản Tiêu đề (Title) hay đầu đề của văn bản là tên gọi của văn bản và là một bộ phận cấu thành văn bản. Tuy nhiên, một số loại văn bản có thể không có tiêu đề, tiêu biểu như tin vắn, các sáng tác dân ca như ca dao v.
Xét mối quan hệ giữa tiêu đề với nội dung cơ bản của văn bản, có hai loại tiêu đề: 18 - Tiêu đề mang tính dự báo : phản ảnh một phần hay toàn bộ nội dung cơ bản của văn bản. Qua tiêu đề thuộc loại này, người đọc có thể suy đoán trước đề tài hay chủ đề của văn bản, - Tiêu đề mang tính nghệ thuật : không gợi ra điều gì về đề tài và chủ đề của văn bản, Xét mối quan hệ giữa hai loại tiêu đề vừa nêu với các phong cách ngôn ngữ văn bản, chúng ta thấy các loại văn bản thuộc phong cách khoa học, hành chánh và chính luận thường có tiêu đề mang tính dự báo. Còn các loại văn bản thuộc phong cách nghệ thuật thường có tiêu đề mang tính chất nghệ thuật hơn là tính chất dự báo. Đoạn văn Ðoạn văn là một tập hợp câu liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức, diễn đạt hoàn chỉnh hay tương đối hoàn chỉnh một chủ đề bộ phận ở cấp độ nhỏ nhất nào đó trong chủ đề hay hệ thống chủ đề toàn thể của văn bản.
Nếu đoạn văn là một tập hợp thì câu chính là phần tử. Do đó, về số lượng câu, đoạn văn có ba khả năng: - Đoạn văn gồm nhiều câu, tức là từ hai trở lên (tập hợp nhiều phần tử) - Đoạn văn một câu (tập hợp một phần tử) - Đoạn văn không có câu nào (tập hợp rỗng). Ðoạn văn nhiều câu là hiện tượng phổ biến trong văn bản. Ðoạn văn một câu chỉ xuất hiện rải rác trong văn bản.
Ðoạn văn không câu nào là trường hợp đặc biệt, chỉ xuất hiện ở các bài văn tuyển. Ðó là những đoạn văn đã bị lược bỏ, được báo hiệu bằng dấu chấm ngang dòng. Trong đoạn văn, tính liên kết cũng thể hiện ở cả hai bình diện: liên kết nội dung và liên kết hình thức như ở cấp độ văn bản. Một đoạn văn được xem là hoàn chỉnh khi nội dung biểu đạt của nó mang tính tự nghĩa và xác định.
Ðoạn văn chỉ hoàn chỉnh tương đối khi nội dung biểu đạt của nó mang tính hợp nghĩa và/hay không xác định. Khái niệm chủ đề bộ phận ở cấp độ nhỏ nhất mà đoạn văn diễn đạt. Ðiều này có nghĩa là những chuỗi câu dưới đoạn chỉ có chức năng triển khai chủ đề của đoạn; dưới đoạn không còn chủ đề bộ phận ở cấp độ nhỏ hơn. 19 Dựa vào đặc điểm về nội dung biểu đạt, có tất cả bốn loại đoạn văn cơ bản : - Đoạn miêu tả : có nội dung thể hiện sự vật, hiện tượng một cách chi tiết, cụ thể, sinh động như nó tồn tại trong thực tại khách quan hay theo trí tưởng tượng của người viết.
Ðây là đoạn văn cơ bản, xuất hiện rất phổ biến trong các loại văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như truyện, thơ trữ tình, kí sự. - Đoạn thuật sự : có nội dung trình bày diễn biến của sự việc, sự kiện như nó đã xảy ra hay theo trí tưởng tượng của người viết. Loại đoạn văn này có khả năng xuất hiện trong nhiều phong cách ngôn ngữ văn bản: hành chánh, khoa học, chính luận và nghệ thuật. - Đoạn lập luận : có nội dung trình bày suy nghĩ, ý kiến, quan điểm của người viết về một vấn đề, một hiện tượng nào đó.
Ðây là loại đoạn văn cơ bản, xuất hiện rất phổ biến trong các loại văn bản thuộc phong cách khoa học, chính luận. Văn bản thuộc phong cách hành chánh cũng có thể vận dụng loại đoạn văn này, nhưng ít phổ biến hơn. - Đoạn hội thoại : có nội dung phản ánh lời nói trực tiếp của con người tham gia giao tiếp. Ðoạn văn hội thoại xuất hiện rất phổ biến trong khẩu ngữ tự nhiên hàng ngày, trong các văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như truyện và hầu như không xuất hiện trong thể loại văn bản khoa học.
Câu và cấu trúc câu tiếng Việt [1] Câu là một tập hợp từ, ngữ kết hợp với nhau theo những quan hệ cú pháp xác định, được tạo ra trong quá trình tư duy,giao tiếp, có giá trị thông báo, gắn liền với mục đích giao tiếp nhất định. Nói đến cấu trúc câu là nói đến các thành phần tạo câu cùng với chức năng, mối quan hệ qua lại và sự phân bố chúng trong tổ chức nội bộ câu. Dựa vào vai trò tạo câu, các thành phần câu được chia thành ba loại lớn: thành phần nòng cốt, thành phần phụ và thành phần biệt lập. • Thành phần nòng cốt của câu.
Thành phần nòng cốt là loại thành phần cơ bản, cốt lõi của câu mà dựa vào nó câu mới có thể tồn tại. Thành phần nòng cốt bao gồm hai loại nhỏ: chủ ngữ và vị ngữ. Chủ ngữ (viết tắt : C) là loại thành phần nòng cốt có chức năng biểu thị đối tượng mà câu đề cập đến. Nó trả lời cho câu hỏi: câu nói về ai, cái gì, việc gì? Về từ loại, chủ ngữ thường do danh từ hay đại từ đảm nhiệm.
Một số từ loại khác như động từ, tính từ và số từ cũng có thể làm chủ ngữ. Về cấu tạo, chủ ngữ có thể là một từ, một chữ chính phụ hay một kết cấu chủ - vị dưới bậc câu (gọi là tiểu cú) tạo thành. Vị ngữ (viết tắt: V) là loại thành phần nòng cốt có chức năng biểu thị nội dung thuyết minh về đối tượng được câu nói đến. Nó trả lời cho câu hỏi: đối tượng được nói đến làm gì, như thế nào, ra sao? Về mặt từ loại, vị ngữ thường do động từ hay tính từ đảm nhiệm.
Một vài từ loại khác như đại từ, số từ cũng có thể làm vị ngữ. Về mặt cấu tạo, vị ngữ có thể do một từ, một ngữ hay do một kết cấu chủ vị dưới bậc câu (tiểu cú) tạo thành. Về trật tự phân bố chủ ngữ, trong câu tiếng Việt, chủ ngữ đứng trước vị ngữ là hiện tượng phổ biến. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chủ ngữ có thể đứng sau vị ngữ.
Chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần nòng cốt, nên chúng thường xuất hiện trong câu. Tuy nhiên, hai thành phần này cũng có thể vắng mặt trong một số trường hợp: - C hay / và V bị tỉnh lược dựa vào hoàn cảnh giao tiếp. - C hay / và V bị tỉnh lược dựa vào văn cảnh. Ngoài một số trường hợp vừa nêu, nếu câu thiếu C hay/và thiếu V thì đó là câu sai ngữ pháp.
• Thành phần phụ của câu. Thành phần phụ của câu bao gồm hai loại nhỏ: trạng ngữ và khởi ngữ. 21 Trạng ngữ (viết tắt: Tr) là loại thành phần phụ có chức năng bổ sung thêm thông tin phụ cho sự việc được kết cấu C - V nòng cốt nêu ra. Thông tin phụ mà Tr bổ sung có thể là thời gian, nơi chốn, cách thức, phương tiện, trạng thái, đối tượng có liên quan v.
Về mặt cấu tạo, Tr có thể là một từ, một ngữ có hay không giới từ dẫn nhập, tuỳ vào loại trạng ngữ cụ thể. Trong trường hợp Tr đứng trước C - V, Tr thường được phân cách với kết cấu C - V bằng dấu phẩy. Trường hợp Tr xen vào giữa hay đứng sau C - V cũng vậy. Ðể xác định được những danh ngữ, giới ngữ xen vào giữa hay nằm sau C - V có phải là Tr hay không, ta kiểm tra bằng cách đảo chúng lên đầu câu.
Nếu câu văn không thay đổi nghĩa hay không sai, thì đó là Tr. Khởi ngữ (viết tắt là K) là loại thành phần phụ có chức năng nhấn mạnh một chi tiết nào đó trong sự việc được kết cấu C - V nêu lên. Ðiểm mà K nhấn mạnh có thể trùng với C, với V hay trùng với một bộ phận nào đó trong V. Về cấu tạo, K có thể do một từ hay một ngữ tạo thành.
Khi K là một ngữ, nó có thể chứa tiểu cú. Về vị trí, K bao giờ cũng đứng trước C - V và được phân cách C - V bằng dấu phẩy, nếu không có trợ từ thì xen vào. Về nội dung nghĩa, cần lưu ý rằng, câu bình thường không có K khác với câu có K ở chỗ: câu có K luôn mang một hàm ý nào đó. • Thành phần biệt lập.
Thành phần biệt lập là loại thành phần đứng tách riêng ra trong tổ chức câu và có mối quan hệ lỏng lẻo với kết cấu C - V nòng cốt. Thành phần biệt lập bao gồm nhiều loại nhỏ: - Chuyển ngữ (Tr chuyển tiếp, thành phần phụ chuyển tiếp). Chuyển ngữ là loại thành phần biệt lập có chức năng xác lập và biểu thị mối quan hệ giữa câu này với câu khác trong chuỗi câu, đoạn văn v. Nói cách khác, chức năng của thành phần này là liên kết câu, tạo nên sự mạch 22 lạc của đoạn văn, ngôn bản.
Về mặt cấu tạo, chuyển ngữ có thể là một từ và bao giờ cũng là quan hệ từ (liên từ, giới từ). Các quan hệ từ thường làm chuyển ngữ là: và, rồi, nhưng, song, tuy nhiên, vì, bởi vì, nên, cho nên, giữa, với, bằng. Chuyển ngữ còn có thể do một tổ hợp từ cố định hoá (quán ngữ) hay có xu hướng cố định hoá tạo thành. Chẳng hạn như các tổ hợp: mặt khác, trái lại, ngược lại, bên cạnh đó, chẳng hạn như, ví dụ như, do đó, mặc dù vậy, tóm lại, nói tóm lại v.
Về vị trí, chuyển ngữ thường đứng trước kết cấu C - V nòng cốt và được phân cách bằng dấu phẩy, nếu ta tổ hợp. Nếu chuyển ngữ là một từ thì không cần dùng dấu phẩy. - Cảm thán ngữ. Cảm thán ngữ là loại thành phần đặc biệt có chức năng biểu thị các trạng thái cảm xúc đi kèm theo sự kiện được câu thông báo.
Về cấu tạo, cảm thán ngữ có thể do một từ - từ cảm - đảm nhiệm. Một số từ cảm thường làm cảm thán ngữ là:à, ạ, ôi, ơi, ái, úi. Cảm thán ngữ cũng có thể do một tổ hợp từ tạo thành. Chẳng hạn như các tổ hợp: ái chà, hỡi ôi, than ôi, đặc biệt là tổ hợp: danh từ kết hợp với các từ ơi, à.
Về vị trí, cảm thán ngữ có thể đứng đầu câu hay cuối câu.