MỞ ĐẦU Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, với khí hậu và địa hình đa dạng đã tạo nên rất nhiều kiểu hệ sinh thái rừng phong phú. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân (khai thác quá mức tài nguyên rừng, canh tác nƣơng rẫy, chăn thả gia súc, chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp…) diện tích rừng Việt Nam liên tục giảm từ 14 triệu ha chiếm 42% diện tích tự nhiên năm 1945 xuống 29% diện tích tự nhiên năm 1975 đến năm 1985 còn 7,8 triệu ha (23,F6%) đến năm 1989 chỉ còn 6,5 triệu ha (19,7%) [Viện Điều tra qui hoạch rừng Việt Nam, 1989]. Đến đầu những năm 1990, do Nhà nƣớc liên tục có những chính sách bảo vệ, thúc đẩy trồng mới rừng, nên diện tích rừng trồng mới đã tăng nhanh chóng, đến năm 2014 tổng diện tích rừng đã tăng lên gần 14 triệu ha chiếm 40% diện tích tự nhiên [theo công bố hiện trạng rừng toàn quốc tính đến 31/12/2013 của bộ NN &PTNT]. Tuy diện tích rừng tăng nhƣng chất lƣợng rừng và tính đa dạng rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm (có tới 80% rừng tự nhiên là rừng nghèo, rừng trồng chiếm tỷ lệ lớn nhƣng đa phần là rừng gỗ nhỏ).
Bên cạnh đó, Việt Nam đƣợc đánh giá một trong năm quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu (IPCC,2007). Trong đó ngành Lâm nghiệp đang phải đối mặt với nhiều thách thức khó khăn nhất. Dƣới tác động của biến đổi khí hậu, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng, nƣớc biển dâng, biến động lƣợng mƣa và các hiện tƣợng thời tiết cực đoan thì các hệ sinh thái rừng là đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng nhất về mặt thành phần loài, cấu trúc, chất lƣợng rừng…Rừng không những là bể chứa các bon, góp phần giảm phát thải CO2 mà rừng còn cung cấp các dịch vụ sinh thái, là nguồn sinh kế nuôi sống con ngƣời, do đó tác động biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái rừng ảnh hƣởng ở quy mô và mức độ càng trầm trọng và rộng lớn hơn. Do tác động nhiều mặt ở Việt Nam nói chung và ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng, thảm thực vật rừng đã bị diễn thế trở thành nhiều kiểu thảm thực vật thoái hóa (thảm thực vật cây bụi, thảm cỏ…).
Các thảm thực vật thoái hóa này đã đƣợc con ngƣời sử dụng với nhiều phƣơng thức (phòng hộ rừng, trồng cây lâm nghiệp, trồng cây lƣơng thực…). Đứng trƣớc những vấn đề nghiêm trọng đó, thì việc xây dựng đƣờng các bon cơ sở của một số thảm thực vật dựa trên nghiên cứu khả năng tích luỹ các bon đã đƣợc thúc đẩy thực hiên trong những năm gần đây. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Văn Chấn là huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái có 62.647 ha diện tích rừng, độ che phủ toàn huyện 52%, rừng tự nhiên đóng vai trò là rừng phòng hộ, là lá chắn xanh giảm nhẹ tác động của mƣa lũ cho khu vực Yên Bái. Trong quá trình du canh, du cƣ của các đồng bào dân tộc thiểu số, địa phƣơng tồn tại nhiều thảm thực vật cây bụi, đƣợc sử dụng với nhiều phƣơng thức khác nhau.
Tuy thảm thực vật cây bụi có giá trị kinh tế thấp nhƣng đóng vai trò quan trọng trong các dự án giảm thiểu khí thải và mất rừng, cải thiện tình trạng hoang hóa, bạc màu tại địa phƣơng. Đƣờng các bon cơ sở là tiêu chí quan trọng giúp xác định có nên triển khai các dự án trồng rừng/tái trồng rừng hoặc bảo tồn và phát triển thảm thực vật tự nhiên. Xã Sơn Thịnh và xã Minh An là hai xã thuộc huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, nằm gần khu vực gần khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa, tỉnh Lai Châu, và rừng Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, trong vài thập kỷ gần đây đã diễn ra quá trình chặt phá rừng trái phép với quy mô lớn, cùng với quá trình du canh du cƣ của các đồng bào dân tộc thiểu số đã làm các thảm thực vật diễn thế, thoái hóa thành thảm cây bụi. Trƣớc nhu cầu khoa học và điều kiện thực tiễn đó, chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng đường các bon cơ sở cho thảm thực vật cây bụi tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” 2.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung: xây dựng đƣờng các bon cơ sở cho thảm thực cây bụi trên địa bàn huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái, làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng thảm thực vật cây bụi một cách hiệu quả. Mục tiêu cụ thể: - Xác định đƣợc cấu trúc sinh khối và khả năng tích lũy các bon của thảm cây bụi tại huyện Văn Chấn tỉnh Yến Bái. - Xây dựng đƣợc các phƣơng trình tƣơng quan để xác định nhanh sinh khối và khả năng tích lũy các bon của các thảm thực vật cây bụi có nguồn gốc và thời gian phục hồi khác nhau. DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Đƣa ra những dẫn liệu khoa học giúp cho việc hoạch định chính sách tại vùng nghiên cứu về phƣơng thức sử dụng thảm thực vật cây bụi.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN a. Thảm thực vật Khái niệm thảm thực vật (Vegetation) đƣợc các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc đƣa ra từ rất sớm.Schumithusen (1959), thảm thực vật là lớp thực bì của Trái Đất và các bộ phận cấu thành khác của nó. Trần Đình Lý (1998) định nghĩa thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt Trái Đất. Khái niệm thảm thực vật chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi kèm theo đối tƣợng cụ thể nhƣ: thảm thực vật rừng ngập mặn, thảm thực vật cây bụi … b.
Sinh khối Sinh khối (Biomass) là khái niệm gọi chung cho các nguồn nguyên liệu bắt nguồn từ thực vật và cả động vật có thể chuyển đổi thành năng lƣợng, là chất hữu cơ dƣới dạng gỗ, lá, cỏ, hạt giống và tất cả các hình thức khác mà thực vật và động vật sống hoặt chết và bộ phận của chúng. Thực chất sinh khối là vật liệu sinh học xây dựng nên cơ thể chủ yếu là thực vật và động vật. Sinh khối đƣợc tính bằng tổng số lƣợng sinh khối động vật (Zoomass) và sinh khối thực vật (Phytomass). Tích luỹ các bon Trong quá trình quang hợp, thực vật (lá) hấp thụ ánh sáng mặt trời tạo ra cacbonhidrat và oxy từ cacbonic và nƣớc, đồng thơi tích luỹ sinh khối dƣới dạng hợp chất hữu cơ của nguyên tố các bon.
Phƣơng trình tổng quát: 6CO2 + 12H2O ==> C6H12O6 + 6O2 + 6H2O d. Đƣờng các bon cơ sở Đƣờng các bon cơ sở đƣợc xây dựng theo phƣơng trình hồi quy tuyến tính một lớp, biểu thị mối quan hệ giữa lƣợng các bon tích luỹ theo thời gian của thảm thực vật trên một đơn vị diện tích.2 NGHIÊN CỨU VỀ SINH KHỐI THỰC VẬT a. Trên thế giới 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã bƣớc đầu có những nghiên cứu về sinh khối thực vật từ quá trình quang hợp, nƣớc, không khí, ánh sáng mặt trời, nhƣng vẫn còn ở mức sơ khai… Sang thế kỷ XX, các nghiên cứu đƣợc thực hiên rộng rãi và có chiều sâu, rất nhiều thành tựu khoa học trong nghiên cứu sinh khối thực vật đã đƣợc công bố. Châu Á là khu vực có diện tích rừng lớn, chiếm khoảng 20% diện tích rừng thế giới, đây là khu vực nghiên cứu lý tƣởng cho sinh khối và trữ lƣợng các bon.
Dựa vào công nghệ tiên tiến GIS, Brown và cộng sự (1980) (dẫn theo Brown, S - 1997) đã dự tính tổng lƣợng các bon rừng nhiệt đới Châu Á khoảng 42- 43 tỷ tấn, trong đó lƣợng các bon trung bình trong phần sinh khối và lớp đất mặt với độ sâu 1m lần lƣợt là 144 tấn/ha và 148 tấn/ha. Tuy nhiên, Paml.A và cộng sự (1986) cho rằng rừng nhiệt đới Châu Á có lƣợng các bon trung bình trong sinh khối phần trên mặt đất là 185 tấn/ha và biến động từ 25-300 tấn/ha (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn – 2005). Brown (1997) khi tiến hành nghiên cứu sinh khối của rừng nhiệt đới Đông Nam Á đã chỉ ra rằng, con ngƣời là chủ thể tác động chủ yếu đến sự thay đổi lƣợng sinh khối trên mặt đất. Bằng các phƣơng pháp nghiên cứu, tác giả đã kết luận: lƣợng sinh khối trên mặt đất trƣớc và sau khi có tác động của con ngƣời là rất khác nhau lần lƣợt đạt 50-430 tấn/ha và 350-400 tấn/ha.
Tại Thái Lan, Christensen (1997), Akira và cs (2007) đã lần lƣợt lựa chọn rừng Đƣớc ngập mặn và Dà vôi làm đối tƣợng nghiên cứu tính toán sinh khối. Kết quả tính toán với rừng Đƣớc 15 tuổi có tổng lƣợng sinh khối trên mặt đất là 159 tấn sinh khối khô/ha, tổng năng suất sinh khối khô là 27 tấn/ha/năm. Rừng Dà vôi ƣớc tính có tổng sinh khối là 137,5 tấn/ha, trong đó sinh khối thân, lá, rễ, phần dƣới mặt đất lần lƣợt đạt 53,35 tấn/ha, 13,29 tấn/ha, 1,99 tấn/ha và 87,51 tấn/ha. Khi nghiên cứu cây Bambusa bambos (L.) Voss tại Thrissur, Kerala, Nam Ấn Độ, Kumar B.
M, Rajesh G và Sudheesh K. G (2005) đã tính toán đƣợc sinh khối trên mặt đất trung bình là 2.417 kg/bụi và trung bình mỗi ha là 241,7 tấn/ha. Thân tƣơi tích lũy sinh khối cao nhất khoảng 82%, gai và lá 13%, thân cây chết sinh khối chiếm khoảng 5%. Trên thế giới, có rất nhiều phƣơng pháp xác định sinh khối thực vật, việc lựa chọn phƣơng pháp hợp lý sẽ quyết định đến độ chính xác của kết quả nghiên cứu.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc sử dụng phương pháp viễn thám để đánh giá sinh khối nhƣ trong nghiên cứu của P.Kamat (1956), Brown và cộng sự (1980) (Lý Thu Quỳnh, 2007) có nhiều ƣu điểm nổi trội (có thể áp dụng trên quy mô lớn, phạm vi quốc gia), thì phƣơng pháp này lại xuất hiện một số nhƣợc điểm (đối với các dự án có quy mô nhỏ thì việc áp dụng phƣơng pháp này không thích hợp vì sai số lớn, do phƣơng pháp sử dụng máy móc công nghệ hiện đại nên dẫn tới chi phí giá thành cao, nhân lực làm việc phải có trình độ chuyên môn đƣợc đào tạo tốt. Phương pháp dioxit các bon: sử dụng nhằm xác đinh sinh khối thông qua xác định tốc độ đồng hoá các bon dioxit. Phương pháp “Chlorophyll” cũng là một trong các phƣơng pháp xác định sinh khối thực vật đƣợc nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn, phƣơng pháp này thực hiện bằng cách thông qua tính toán hàm lƣợng Chlorophyll trên một đơn vị diện tích mặt đất để tính toán lƣợng sinh khối.