phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Cán bộ dân tộc thiểu số, vị trí, vai trò và đặc điểm của đội ngũ cán bộ ngƣời dân tộc thiểu số trong sự nghiệp cách mạng 1. Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số Khái niệm dân tộc thiểu số Khái niệm "dân tộc thiểu số" được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, trong các văn bản của các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), hoặc các tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc như (UNDP, UNICEF.), người ta thường sử dụng khái niệm "người bản địa", hay các "dân tộc bản địa" thay cho khái niệm "dân tộc thiểu số" như cách gọi của chúng ta. Đối với thực tiễn tộc người Việt Nam, khái niệm "người bản địa" (hay còn gọi là "người bản xứ") chỉ xuất hiện vào thời Pháp thuộc, khi phân biệt người dân Việt Nam với người Pháp. Có 54 tộc người sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không có tộc người nào là bản địa hay tộc người nào phi bản địa - dù có tộc người sinh sống lâu đời có tộc người nhập cư muộn hơn - mà chỉ có tộc người đa số và tộc người thiểu số. Do đó, khái niệm "tộc người thiểu số" (hay "dân tộc thiểu số") được sử dụng là phù hợp thực tiễn tộc người ở nước ta.
Gọi tộc người thiểu số là để phân biệt với tộc người đa số mà tiêu chí phổ dụng là xem xét tỷ lệ dân số tộc người trong tổng dân số quốc gia. "Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, cả nước có 85.997 người, trong đó người Kinh là 73.427 người (chiếm 85,73%), nên được xem là tộc người đa số, 53 tộc người còn lại (và 2.134 người ngoại quốc) là 12.570 người (chiếm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14,27%), nên được xem là các tộc người thiểu số" [30, tr. Một tộc người chỉ được xem là thiểu số khi đặt dân số tộc người đó với tổng dân số cả nước mà không xem xét ở phạm vi vùng hay địa phương. Bởi vì, một tộc người thiểu số nào đó (của cả nước) nhưng đặt trong phạm vi một địa phương nhất định có khi lại chiếm đa số, như trường hợp người Mường ở Hòa Bình, người Thái ở Sơn La hay người Nùng ở Lạng Sơn.
Thuật ngữ "thiểu số" hay "ít người" cũng đều hàm nghĩa giống nhau, một bên nghĩa Hán - Việt, còn bên kia là thuần Việt. Tuy nhiên, khi nói "ít người" dễ hiểu lầm với các tộc người thiểu số có dân số ít (thường dưới 10.000 người), nên thuật ngữ "ít người" ít được sử dụng. Còn nếu gọi "dân tộc thiểu số" ở nước ta thì được hiểu là "tộc người thiểu số", tức 53 tộc người còn lại ngoài người Kinh. Các tài liệu phổ biến ở nước ta thường phân biệt tộc người này với tộc người khác ở các dấu hiệu về ngôn ngữ, đặc trưng sinh hoạt văn hóa, ý thức tự giác tộc người (thường thể hiện ở tên tự gọi).
Cán bộ và cán bộ người dân tộc thiểu số Theo Từ điển Hán - Việt, “cán bộ” là một danh từ chỉ lớp người là những chiến sĩ cách mạng, lớp người mới sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp cao cả giành độc lập, tự do cho dân tộc [37, tr. Trong Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, “cán bộ” được hiểu là: Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước (cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị). Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ [34, tr. Theo từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng, "cán bộ là người phụ trách một công tác của chính quyền hay của đoàn thể, phân biệt với dân thường" [35, tr.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Còn theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “cán bộ” là thuật ngữ dùng để "chỉ những người được bầu hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ trong các tổ chức (Đảng, nhà nước, đoàn thể nhân dân) thuộc hệ thống chính trị của quốc gia, ở các cấp từ trung ương tới cơ sở. Theo nghĩa rộng, cán bộ bao gồm tất cả những người giữ chức vụ hoặc đảm trách công vụ trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị hoặc làm các công việc do tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội. và nhân dân giao phó, cả những người tự nguyện làm việc “ích nước lợi nhà” không hưởng lương, được nhân dân tín nhiệm gọi là cán bộ (như cán bộ Bình dân học vụ, cán bộ khuyến học, cán bộ tín dụng. Trong đời sống xã hội, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quân đội, được hưởng lương.
Nói đến cán bộ là nói đến một lớp người mới, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh cho cách mạng, gắn bó mật thiết với nhân dân, gần gũi với dân chúng. Tại điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước [40, tr. Khái niệm “cán bộ người dân tộc thiểu số” về thực chất là một khái niệm kép - một tập hợp của hai khái niệm “cán bộ” và “dân tộc thiểu số”. Khái niệm này dùng để chỉ những người đang công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị có thành phần dân tộc xuất thân là các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Tiêu chí để phân biệt “cán bộ dân tộc thiểu số” trong “đội ngũ cán bộ” nói chung là có thành phần dân tộc xuất thân từ các “dân tộc thiểu số”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong một số văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, cụm từ “cán bộ dân tộc thiểu số” được thay thế bằng cụm từ “cán bộ là người dân tộc thiểu số”. Xét về ngữ nghĩa đây là hai cụm từ đồng nghĩa. Xét về nội hàm khái niệm thì đây là hai khái niệm có cùng nội hàm, có thể thay thế cho nhau.
Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong sự nghiệp cách mạng Khẳng định vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đối với sự nghiệp cách mạng, quan điểm xuyên suốt của Đảng từ trước tới nay: cán bộ là khâu then chốt, là nhân tố quyết định thành bại của sự nghiệp cách mạng. Vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số được thể hiện trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các vùng dân tộc là: Một là, vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số được thể hiện thông qua việc tiếp thu và vận dụng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương. Hệ thống chính trị hoạt động tốt, cần phải có một đội ngũ cán bộ có năng lực thực sự. Đó là một yêu cầu khách quan không chỉ đặt ra đối với các vùng dân tộc thiểu số.
Năng lực của đội ngũ cán bộ được xác định bởi một hệ thống tiêu chuẩn nhất định tùy theo từng lĩnh vực và cương vị công tác của mỗi cán bộ. Đối với cán bộ dân tộc thiểu số và cán bộ công tác ở các vùng dân tộc thiểu số, trước hết phải có năng lực tiếp thu đầy đủ và chính xác các quan điểm, sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, từ đó đem vận dụng một cách phù hợp, sáng tạo trong địa phương, đơn vị mình phụ trách. Điều đó chính là yếu tố khẳng định năng lực của từng người cán bộ cụ thể, đồng thời khẳng định năng lực của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta mang tính chất tổng hợp, đề cập một cách toàn diện tất cả các nội dung kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, quốc phòng ở các vùng dân tộc thiểu số.
Việc tiếp thu đúng và đầy đủ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các chính sách đó đã là vấn đề khó, nhưng để vận dụng chính sách đó vào thực tiễn địa phương, mang lại hiệu quả cao, phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã được xác định còn khó hơn nhiều. Chính sách dân tộc của Đảng ta từ trước tới nay luôn luôn đúng đắn và nhất quán, song ở mỗi thời kỳ, ở mỗi lĩnh vực cụ thể, địa phương cụ thể đều xuất hiện những thiếu sót, khuyết điểm trong quá trình thực hiện. Điều đó là do nhận thức, khả năng vận dụng của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu, từ đó dẫn đến những sai lệch hoặc hạn chế hiệu quả của chính sách. Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta đã có những chính sách nhằm đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc.
Sau khi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội lần thứ VII thông qua (1991), Đảng và Nhà nước ta triển khai hàng loạt chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc như: Chương trình 327; Chương trình trồng mới 7 triệu hécta rừng; Chương trình xóa đói giảm nghèo, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135)… Trong nhưng năm qua, hầu hết các chương trình nói trên đã được triển khai trên địa bàn miền núi và vùng dân tộc thiểu số. Những kết quả thu được bước đầu đã tạo ra những chuyển biến rõ rệt về nhiều mặt trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số.