Chương 1: Tổng quan và cơ sở lí luận về xây dựng công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên trung học phổ thông Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả xây dựng công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên Trung học phổ thông 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CÔNG CỤ TỰ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIÁO DỤC HỌC SINH CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan các nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về năng lực dạy học, năng lực giáo dục của giáo viên và đánh giá năng lực của giáo viên Hiện nay, các tài liệu, công trình nghiên cứu, xuất bản về vấn đề năng lực giáo dục của GV ở Việt Nam còn rất hạn chế. Đặc biệt là các nghiên cứu về đánh giá năng lực giáo dục HS (năng lực giáo dục theo nghĩa hẹp) của các tác giả trong và ngoài nước gần như chưa có.
Phần lớn tài liệu và các công trình nghiên cứu về năng lực GV, năng lực dạy học, năng lực giảng dạy các môn học. Như vậy, so với năng lực giảng dạy, năng lực giáo dục của GV chưa được quan tâm thoả đáng, chưa chú trọng đến việc phát triển, nâng cao năng lực giáo dục HS cho đội ngũ GV. Để có cơ sở khoa học cho việc xây dựng công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục HS của GV, tác giả kế thừa, tiếp cận với những hệ thống tài liệu gần với hướng nghiên cứu từ các góc độ: Tâm lý học, Tâm lý Giáo dục, Giáo dục học, Đo lường và đánh giá trong giáo dục., từ Chuẩn nghề nghiệp GV của Việt Nam và các nước trên thế giới. Dựa trên những cơ sở nền tảng này, luận án nghiên cứu các công trình, tài liệu của các tác giả đã xây dựng và đề xuất để tổng hợp các vấn đề thành cơ sở lí luận chung cho vấn đề nghiên cứu.
Theo nghiên cứu “Tổng quan về năng lực giáo dục của GV trung học” (중등학교 교사의 교수역량 구성요인에 대한 이론적 고찰) của tác giả Baek Sun Geun cùng cộng sự (2007) đã đề cập đến những công việc mà GV ở trường Trung học phải đảm nhận là “chương trình môn học, hướng dẫn hỗ trợ học sinh, công tác hành chính, quan hệ với học sinh, quan vệ với phụ huynh, mối quan hệ với đồng nghiệp, phát triển cá nhân”. Tác giả đã đưa ra 2 lĩnh vực cốt l i cho năng lực sư phạm là năng lực giảng dạy và năng lực giảng dạy giáo dục. Trong đó năng lực giảng dạy bao gồm 5 tiêu chuẩn sau: 10 (1) Kiến thức môn học: hiểu về nội dung, kiến thức môn học, chương trình giáo dục (2) Người học và hoạt động học tập: hiểu học sinh và sự phát triển của học sinh; hiểu về mức độ nhận thức, tình cảm và những đặc điểm khác biệt của học sinh (3) Thiết kế tiết học và phát triển (4) Môi trường dạy và học: môi trường xã hội và môi trường tâm lý giữa GV và học sinh, mối quan hệ với học sinh, xây dựng môi trường lớp học (5) Đánh giá: thực hiện được các biện pháp đánh giá, sử dụng được các công cụ đánh giá Năng lực giáo dục bao gồm 5 tiêu chuẩn sau: (1) Kế hoạch và tổ chức: sắp xếp phân bổ thời gian phù hợp, có sự liên kết giữa các nội dung bài học (2) Năng lực giao tiếp: giao tiếp bằng ngôn ngữ, phi ngôn ngữ (3) Sự tương tác với học sinh: duy trì các câu hỏi và câu trả lời phù hợp, duy trì hứng thú cho học sinh, cung cấp phản hồi cho học sinh (4) Sắp xếp môi trường dạy và học: xây dựng môi trường lớp học và môi trường tâm lý phù hợp. (5) Tận tình và nhiệt huyết: quan tâm và tận tâm với học sinh.
Như vậy, nghiên cứu này đã xây dựng các tiêu chuẩn cho năng lực của GV dựa trên các nhiệm vụ mà người GV ở trường Trung học phải đảm nhận. Tác giả Lê Văn Hồng và cộng sự (2007) đã chỉ ra cấu trúc của năng lực sư phạm bao gồm: nhóm năng lực dạy học, nhóm năng lực giáo dục và năng lực tổ chức hoạt động sư phạm. Trong đó, năng lực giáo dục bao gồm các năng lực: năng lực vạch dự án phát triển nhân cách HS, năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực cảm hóa HS, năng lực khéo léo đối xử sư phạm. Trần Bá Hoành (2010), trong “Những yêu cầu mới về nghiệp vụ sư phạm trong chuẩn nghề nghiệp GV trung học” quan niệm năng lực sư phạm là khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục và dạy học với chất lượng cao.
Với quan điểm đó, ông 11 đã xác định các năng lực theo quá trình hoạt động của người giáo viên, với năm nhóm năng lực cơ bản: năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm của đối tượng giáo dục và dạy học; năng lực thiết kế kế hoạch giáo dục và dạy học; năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục và dạy học; năng lực giám sát, đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục và dạy học; và năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục và dạy học. Nguyễn Sỹ Thư, Đinh Thị Kim Thoa (2013) đã chỉ ra năng lực sư phạm là năng lực thực hiện các quy phạm đối với người thầy, nghề thầy và bao gồm năng lực dạy học và năng lực giáo dục. Năng lực giáo dục là năng lực hiểu được HS và sử dụng linh hoạt các biện pháp giáo dục để giúp HS hiểu, suy nghĩ và làm theo yêu cầu của xã hội. Năng lực này bao gồm: Năng lực xác định mô hình phát triển nhân cách HS; Năng lực cảm hóa HS; Năng lực ứng xử sư phạm có hiệu quả; Nhóm năng lực tổ chức hoạt động sư phạm.
Tác giả Phạm Thị Kim Anh (2016) đã chỉ ra ngoài những năng lực cần thiết mà chuẩn nghề nghiệp GV đã yêu cầu, những năng lực sau đây giúp người thầy vượt qua được mọi thách thức trong giáo dục HS, đó là: (1) Năng lực hiểu và thích ứng với HS: Người thầy phải hiểu được đặc điểm cũng như cá tính của từng đối tượng HS, biết chấp nhận và thích ứng với đối tượng mình đang giáo dục. Từ đó tìm ra phương pháp phù hợp để tác động đến HS. (2) Năng lực ứng phó và xử lý các tình huống giáo dục một cách hiệu quả: Các tình huống luôn xảy ra trong lớp học với mức độ, tính chất ngày càng phức tạp, căng thẳng và khó xử. Trong các tình huống đó, GV phải biết ứng phó kịp thời, có biện pháp xử lý nghiêm khắc nhưng cần có sự mềm dẻo, có tính sư phạm để tránh căng thẳng không cần thiết hoặc gây tổn thương cho GV và HS.
(3) Năng lực kiềm chế cảm xúc trước những hành vi lệch chuẩn của HS: Trong thực tiễn đã có nhiều thầy cô do không kiềm chế được cảm xúc nên đã quát mắng, lăng mạ hoặc có hành vi thô bạo với HS, gây nên những hậu quả đáng tiếc và vi phạm qui định nhà giáo. Vì thế, trước những hành vi không phù hợp, GV cần biết kiểm soát sự nóng giận của mình và tìm cách xử lý 12 phù hợp. Đây được coi là một trong những kỹ năng rất quan trọng của người thầy trong giáo dục HS, nhất là với những HS có hành vi lệch chuẩn. Trong cuốn “Chương trình đào tạo GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GDPT” của tác giả Đinh Quang Báo và cộng sự (2017) cho rằng năng lực sư phạm có thể được xác định chung cho các khoa đào tạo GV THPT trong các Trường Đại học Sư phạm gồm có: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực định hướng sự phát triển của HS; năng lực phát triển cộng đồng; năng lực phát triển cá nhân.
Năng lực giáo dục bao gồm 10 tiêu chí: giáo dục qua giảng dạy các môn học; xây dựng kế hoạch giáo dục; vận dụng phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục; tổ chức hoạt động giáo dục; xử lí các tình huống giáo dục; giáo dục HS có hành vi không mong đợi; phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường; tư vấn, tham vấn cho HS; đánh giá sự tiến bộ và kết quả giáo dục HS; xây dựng, quản lí và khai thác hồ sơ giáo dục. Phạm Thị Hồng Vinh cùng cộng sự (2018) đã đưa ra bên cạnh hệ thống kỹ năng cơ bản như: nhóm kỹ năng nhận thức, nhóm kỹ năng xác định mục tiêu hoạt động giáo dục, nhóm kỹ năng thiết kế, nhóm kỹ năng tổ chức, nhóm kỹ năng giao tiếp, nhóm kỹ năng tư học, người GV cần có thêm hệ thống kỹ năng chuyên biệt. Hệ thống kỹ năng chuyên biệt bao gồm nhóm kỹ năng giảng dạy, nhóm kỹ năng giáo dục, nhóm kỹ năng nghiên cứu khoa học và nhóm kỹ năng hoạt động xã hội. Trong đó, nhóm kỹ năng giáo dục (giáo dục theo nghĩa hẹp): kỹ năng tìm hiểu và nắm vững HS; kỹ năng lựa chọn nội dung, phương pháp giáo dục sao cho phù hợp với từng đối tượng HS; kỹ năng tổ chức các HĐGDNGLL; kỹ năng ứng xử sư phạm; kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục; kỹ năng rút kinh nghiệm, điều khiển, điều chỉnh hoạt động giáo dục và tự giáo dục.
Tài liệu về “Tiêu chuẩn năng lực GV ở các nước Đông Nam Á: đánh giá 11 quốc gia” (theo http://www.org) đã đưa ra các đặc trưng và phạm vi vùng miền đối với các tiêu chuẩn về năng lực GV ở Đông Nam Á và các lĩnh vực chính trong năng lực GV ở Đông Nam Á được mô tả ở bảng và hình dưới đây: 13 Bảng 1.