Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Xây dựng công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên trung học phổ thông" do nghiên cứu sinh Lại Thị Yến Ngọc thực hiện tại Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội (2023), thuộc chuyên ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục (mã số: 9140115), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Kim Long và GS. Jong Seung Lee.
Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 và Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT đòi hỏi sự chuyển dịch căn bản về vai trò của người giáo viên: từ việc truyền thụ kiến thức sang tổ chức các hoạt động học tập, cá biệt hóa quá trình giáo dục, tư vấn, hỗ trợ và phối hợp đa chiều với cha mẹ học sinh và cộng đồng xã hội.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trong cấu trúc năng lực sư phạm của giáo viên trung học phổ thông (THPT), năng lực sư phạm bao gồm hai nhóm chủ yếu là năng lực dạy học và năng lực giáo dục học sinh (xét theo nghĩa hẹp, gắn với hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp). Trong khi các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào lý luận chung hoặc đánh giá năng lực dạy học môn học (như nghiên cứu của Phạm Minh Hạc, 2014; Phạm Thị Kim Anh, 2016; Phan Trọng Ngọ và Nguyễn Thị Mỹ Hoà, 2017), năng lực giáo dục học sinh lại ít được nghiên cứu chuyên biệt. Đây là loại năng lực khó lượng hóa, thiếu vắng các bộ công cụ đo lường được chuẩn hóa theo quy chuẩn khoa học, dẫn đến việc giáo viên tự đánh giá thường mang tính chủ quan, cảm tính, thiếu căn cứ thực tiễn để định hướng tự rèn luyện và bồi dưỡng chuyên môn.
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu và xây dựng công cụ tự đánh giá nhằm cung cấp thông tin, dữ liệu tin cậy, có giá trị khoa học cho việc tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT, làm cơ sở định hướng bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho đội ngũ nhà giáo.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án được xác định gồm:
- Cấu trúc năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT bao gồm những năng lực thành phần nào?
- Công cụ tự đánh giá dựa trên cấu trúc năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT được xây dựng như thế nào?
- Công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT được sử dụng như thế nào để góp phần nâng cao năng lực tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm:
- Cấu trúc năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT bao gồm 6 năng lực thành phần: (1) Năng lực xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục học sinh dựa trên sự hiểu biết về học sinh và môi trường giáo dục; (2) Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục; (3) Năng lực xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường; (4) Năng lực ứng xử sư phạm và tư vấn, hỗ trợ học sinh; (5) Năng lực phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh; (6) Năng lực đánh giá và phản hồi kết quả rèn luyện của học sinh.
- Dựa trên cấu trúc năng lực với mô tả các cấp độ của biểu hiện hành vi, có thể xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ báo của công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT. Công cụ chỉ đảm bảo độ tin cậy và độ giá trị khi được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận của khoa học đo lường và đánh giá về thiết kế công cụ; đồng thời được sử dụng hiệu quả hơn nếu giáo viên thực hiện đúng quy trình hướng dẫn đề xuất, từ đó nâng cao năng lực tự học, tự bồi dưỡng.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT.
- Khách thể nghiên cứu: Đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT.
Phạm vi không gian và thời gian:
- Địa bàn thử nghiệm: 5 trường THPT thuộc 5 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Đắk Lắk.
- Địa bàn chuẩn hóa công cụ: Các trường THPT thuộc 18 tỉnh, thành phố đại diện cho khu vực thành thị, nông thôn, miền núi của 3 miền: Miền Bắc (Hà Nội, Hà Nam, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hòa Bình, Yên Bái, Hà Giang); Miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Bình, Ninh Thuận, Phú Yên, Đắk Lắk, Gia Lai); Miền Nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bạc Liêu).
- Mẫu khảo sát: Khảo sát thử nghiệm trên 170 giáo viên THPT; khảo sát chính thức chuẩn hóa trên 1.510 giáo viên THPT. Mẫu định tính gồm 10 chuyên gia; 04 cán bộ quản lý (Phó Hiệu trưởng) và giáo viên phỏng vấn sâu ban đầu tại Hòa Bình và Hà Nội; 08 giáo viên phỏng vấn sâu sau khảo sát chính thức tại Hòa Bình, Hà Nội và Hà Nam.
- Thời gian thực hiện khảo sát: Từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 04 năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành điểm luận có hệ thống các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến năng lực, năng lực giáo dục của giáo viên, tự đánh giá và chuẩn nghề nghiệp giáo viên:
Các nghiên cứu quốc tế:
- Baek Sun Geun cùng cộng sự (2007) khi nghiên cứu về năng lực của giáo viên trung học tại Hàn Quốc đã chia năng lực sư phạm thành năng lực giảng dạy (gồm 5 tiêu chuẩn: kiến thức môn học; người học và hoạt động học tập; thiết kế tiết học và phát triển; môi trường dạy và học; đánh giá) và năng lực giáo dục (gồm 5 tiêu chuẩn: kế hoạch và tổ chức; năng lực giao tiếp; sự tương tác với học sinh; sắp xếp môi trường dạy và học; tận tình và nhiệt huyết).
- Elizabeth Jones, Richard Voorhees và Karen Paulson (2002) đề xuất mô hình đánh giá theo năng lực gồm 4 tầng bậc: tầng tiềm năng và đặc điểm nhân cách; tầng kiến thức, kỹ năng, thái độ tiếp thu qua giáo dục; tầng năng lực tích hợp gắn với nhiệm vụ; tầng kết quả thể hiện năng lực giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn.
- Gerald D. Bailey nghiên cứu về tự đánh giá của giáo viên với quy trình 7 bước liên kết nhằm cải thiện hành vi giảng dạy trong lớp học. Bang Hee Kim và Jinsoo Kim (2016) phát triển và kiểm định công cụ tự đánh giá năng lực dạy học STEAM của giáo viên Hàn Quốc gồm 35 item thuộc 7 lĩnh vực qua phân tích nhân tố khám phá (EFA) và khẳng định (CFA). Nghiên cứu của cộng sự (2004) phát triển khung năng lực giảng dạy của giảng viên đại học bằng kỹ thuật Delphi và kiểm định mô hình qua CFA, rút gọn từ 134 item xuống 61 item.
- Khảo sát các bộ Chuẩn nghề nghiệp giáo viên quốc tế: Chuẩn của Hội đồng Tiêu chuẩn Giảng dạy Chuyên nghiệp Quốc gia Hoa Kỳ (NBPTS, 2012) và chuẩn giáo viên tại các bang Ohio, New Jersey, Wisconsin, California, North Carolina; Chuẩn năng lực giáo viên Đức (2006); Chuẩn nghề nghiệp bang Queensland, Úc (2005) và Chuẩn nghề nghiệp quốc gia Úc (2017); Tiêu chuẩn giáo viên Anh (2013); Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Indonesia (2016, theo công bố của Abdul Rahman); Khung năng lực giáo viên Đông Nam Á của SEAMEO (2018) bao quát 11 quốc gia; Tiêu chuẩn năng lực chung của giáo viên Thổ Nhĩ Kỳ thuộc dự án SBEP (2006).
Các nghiên cứu trong nước:
- Lê Văn Hồng cùng cộng sự (2007) xác định cấu trúc năng lực sư phạm gồm nhóm năng lực dạy học, nhóm năng lực giáo dục (vạch dự án phát triển nhân cách học sinh, giao tiếp sư phạm, cảm hóa học sinh, khéo léo đối xử sư phạm) và năng lực tổ chức hoạt động sư phạm.
- Trần Bá Hoành (2010) tiếp cận năng lực theo tiến trình hoạt động gồm 5 nhóm năng lực: chẩn đoán nhu cầu; thiết kế kế hoạch; tổ chức thực hiện; giám sát và đánh giá; giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học và giáo dục.
- Nguyễn Sỹ Thư và Đinh Thị Kim Thoa (2013) phân định năng lực giáo dục thành: xác định mô hình phát triển nhân cách học sinh; cảm hóa học sinh; ứng xử sư phạm có hiệu quả; tổ chức hoạt động sư phạm; hiểu học sinh trong quá trình giáo dục.
- Phạm Thị Kim Anh (2016) chỉ rõ các năng lực đặc thù gồm năng lực hiểu và thích ứng với học sinh, ứng phó xử lý tình huống giáo dục, kiềm chế cảm xúc trước các hành vi lệch chuẩn.
- Đinh Quang Báo cùng cộng sự (2017) xác định 10 tiêu chí của năng lực giáo dục trong chương trình đào tạo giáo viên. Phạm Thị Hồng Vinh cùng cộng sự (2018) phân tích hệ thống kỹ năng chuyên biệt của giáo viên trong tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Vũ Trọng Rỹ (2019) xác định các nhóm năng lực giáo dục cần thiết theo Chương trình GDPT 2018. Bùi Thị Mùi (2016); Mai Quang Huy, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Anh Tuấn (2009); Nguyễn Thanh Bình cùng cộng sự (2011) nghiên cứu về nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm và tổ chức hoạt động giáo dục.
- Về công cụ tự đánh giá: Nguyễn Thị Hương (2018) thiết kế bộ công cụ tự đánh giá kỹ năng dạy học môn Toán của giáo viên tiểu học; Tăng Thị Thuỳ cùng cộng sự (2022) phát triển bộ công cụ tự đánh giá năng lực dạy học STEAM của giáo viên phổ thông rút gọn từ 100 item còn 37 item qua kiểm định Cronbach's Alpha và EFA trên 249 giáo viên.
Khoảng trống luận án giải quyết: Hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước chỉ tập trung vào năng lực dạy học hoặc dừng lại ở việc mô tả lý luận về năng lực giáo dục mà chưa xây dựng được một công cụ tự đánh giá chuyên biệt, có cấu trúc chỉ báo hành vi rõ ràng và được chuẩn hóa bằng các kỹ thuật đo lường tâm lý - giáo dục học hiện đại cho giáo viên THPT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết về năng lực và đo lường đánh giá:
- Khái niệm năng lực: Kế thừa quan điểm của David C. McClelland (1973, 1993), Boam và Sparrow (1992), Spencer và Spencer (1993), Lucia và Lepsinger (1999), Dubois và Rothwell (2004), F. Weinert (2001), OECD (2002, 2009), Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2005, 2015), Đặng Thành Hưng (2012), Hoàng Hoà Bình (2015). Luận án xác định: năng lực là tổ hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ giúp cá nhân thực hiện hiệu quả một hoạt động nhất định trong những điều kiện cụ thể.
- Khái niệm năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT: Được định nghĩa là tổ hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ trong xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động giáo dục; xây dựng môi trường giáo dục; ứng xử sư phạm và tư vấn, hỗ trợ học sinh; đánh giá và phản hồi kết quả rèn luyện của học sinh; phối hợp các lực lượng giáo dục của người giáo viên để đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra.
- Cấu trúc năng lực: Luận án tiếp cận cấu trúc năng lực theo năng lực bộ phận (Nguyễn Lan Phương, 2015; Hoàng Hoà Bình, 2015) theo mô hình phân tầng: Hợp phần (lĩnh vực chuyên môn) -> Thành tố (năng lực bộ phận) -> Hành vi/Chỉ báo (biểu hiện cụ thể). Đồng thời tích hợp mô hình tảng băng (làm - suy nghĩ - mong muốn) và thang đo 5 cấp độ năng lực lũy tiến của Lê Quân (2015): Cấp độ 1 (sơ cấp), Cấp độ 2 (cơ bản), Cấp độ 3 (vững chắc/đáp ứng yêu cầu), Cấp độ 4 (sâu rộng), Cấp độ 5 (chuyên gia).
- Căn cứ thực tiễn: Dựa trên Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT (gồm 5 tiêu chuẩn, 15 tiêu chí), các quy định nhiệm vụ của nhà giáo theo Luật Giáo dục 2019, Chuẩn đầu ra trình độ đại học khối ngành sư phạm đào tạo giáo viên THPT (2013) và Chương trình Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp (2018).
- Bốn cách tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận theo chuẩn, tiếp cận hoạt động, tiếp cận hệ thống và tiếp cận phát triển.
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính:
- Phân tích, tổng hợp tài liệu khoa học và văn bản quy phạm.
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Thực hiện với 04 cán bộ quản lý (Phó Hiệu trưởng) và giáo viên tại Hà Nội và Hòa Bình trước khi khảo sát; phỏng vấn sâu 08 giáo viên tại Hà Nội, Hà Nam, Hòa Bình sau khảo sát chính thức.
- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức các buổi seminar khoa học, trao đổi trực tiếp và xin ý kiến đánh giá bằng phiếu từ 10 chuyên gia thuộc các lĩnh vực Tâm lý học, Giáo dục học, Đo lường và đánh giá trong giáo dục.
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích sổ công tác chủ nhiệm, kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục, biên bản sinh hoạt lớp, biên bản họp cha mẹ học sinh.
- Phương pháp định lượng:
- Điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu tự đánh giá thông qua phiếu khảo sát thiết kế theo thang đo Likert.
- Phân tích thống kê: Sử dụng phần mềm Excel, SPSS và AMOS để xử lý số liệu. Thống kê mô tả (Điểm trung bình ĐTB, Độ lệch chuẩn ĐLC), phân tích hệ số tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), kiểm tra tính phù hợp của mô hình (Model Fit), đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt, kiểm định khác biệt thống kê (Independent Samples T-Test, ANOVA) theo giới tính và loại hình trường.
Bảng tổng hợp thiết kế phương pháp và nguồn dữ liệu của luận án:
| Hướng tiếp cận |
Phương pháp cụ thể |
Quy mô mẫu / Nguồn dữ liệu |
Mục đích áp dụng |
| Định tính |
Nghiên cứu tài liệu |
Các công trình nghiên cứu, văn bản pháp quy, chuẩn giáo viên trong nước và quốc tế |
Xây dựng khung lý luận, xác định cấu trúc 6 năng lực thành phần |
| Định tính |
Phương pháp chuyên gia |
10 chuyên gia đo lường đánh giá, tâm lý học, giáo dục học |
Thẩm định nội dung, điều chỉnh các tiêu chí, chỉ báo và item bảng hỏi |
| Định tính |
Phỏng vấn bán cấu trúc |
04 cán bộ quản lý/giáo viên (trước khảo sát) và 08 giáo viên (sau khảo sát) |
Khai thác sâu thực tiễn công tác giáo dục và diễn giải kết quả khảo sát |
| Định tính |
Nghiên cứu sản phẩm |
Kế hoạch giáo dục, sổ chủ nhiệm, biên bản họp cha mẹ học sinh |
Minh chứng thực tế cho các biểu hiện hành vi giáo dục của giáo viên |
| Định lượng |
Khảo sát thử nghiệm |
170 giáo viên THPT tại 5 tỉnh/thành phố |
Kiểm định độ tin cậy thang đo thử nghiệm qua Cronbach's Alpha và tương quan biến - tổng |
| Định lượng |
Khảo sát chính thức |
1.510 giáo viên THPT tại 18 tỉnh/thành phố |
Kiểm định EFA, CFA trên SPSS và AMOS, kiểm định độ giá trị, đánh giá thực trạng |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lí luận về xây dựng công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên trung học phổ thông
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực, năng lực giáo dục và tự đánh giá của giáo viên:
- Làm rõ bản chất của năng lực sư phạm, phân định ranh giới tương đối giữa năng lực dạy học và năng lực giáo dục học sinh theo nghĩa hẹp. Tác giả chỉ ra rằng trong khi việc dạy học tập trung vào truyền thụ tri thức môn học và phát triển năng lực nhận thức, thì năng lực giáo dục hướng vào phát triển phẩm chất nhân cách, thái độ, giá trị sống và khả năng hòa nhập xã hội của học sinh.
- Tổng kết các mô hình cấu trúc năng lực: Cấu trúc năng lực hành động (năng lực chuyên môn, phương pháp, xã hội, cá thể) của Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường; mô hình tảng băng năng lực; cấu trúc năng lực theo năng lực bộ phận (Hợp phần - Thành tố - Hành vi) của Nguyễn Lan Phương.
- Phân tích nguyên tắc xây dựng công cụ đánh giá theo quy chuẩn của Nguyễn Công Khanh (2009), bao gồm yêu cầu xác lập mục tiêu, chuẩn hóa quy trình, đảm bảo độ tin cậy (độ nhất quán nội tại qua Cronbach's Alpha) và độ giá trị (giá trị nội dung, giá trị cấu trúc, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt).
- Phân tích các chuẩn nghề nghiệp giáo viên trong nước (Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT) và quốc tế (Hoa Kỳ, Đức, Úc, Anh, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, SEAMEO) để trích xuất các tiêu chí đặc thù của hoạt động giáo dục học sinh.
- Đề xuất khung lý thuyết của đề tài với cấu trúc năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT gồm 6 năng lực thành phần (NL1 đến NL6), làm nền tảng lý luận trực tiếp cho việc thiết kế công cụ đo lường ở chương tiếp theo.
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương thức thiết kế nghiên cứu, quy trình triển khai và kỹ thuật thao tác hóa khái niệm:
- Xác lập địa bàn nghiên cứu đại diện 3 miền Bắc, Trung, Nam với 18 tỉnh/thành phố, bao gồm đầy đủ các khu vực địa lý: thành thị, nông thôn và miền núi. Mẫu khảo sát thử nghiệm gồm 170 giáo viên; mẫu khảo sát chính thức gồm 1.510 giáo viên giảng dạy các môn học tại các trường THPT.
- Quy trình tổ chức nghiên cứu được thực hiện qua các bước:
- Xây dựng khung năng lực lý thuyết và thao tác hóa khái niệm thành các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo hành vi.
- Thiết kế bảng hỏi tự đánh giá sơ bộ và lấy ý kiến thẩm định từ 10 chuyên gia qua hội thảo khoa học và phiếu góp ý.
- Khảo sát thử nghiệm diện hẹp trên 170 giáo viên THPT để phân tích độ tin cậy thang đo.
- Hoàn thiện bảng hỏi chính thức, tiến hành khảo sát diện rộng trên 1.510 giáo viên.
- Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS và AMOS: phân tích độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố EFA, phân tích nhân tố CFA để kiểm định mô hình cấu trúc.
- Xây dựng bảng quy chuẩn phân loại mức độ năng lực và biên soạn tài liệu hướng dẫn sử dụng công cụ.
- Thao tác hóa khái niệm: Luận án chi tiết hóa 6 năng lực thành phần thành hệ thống các tiêu chí chất lượng và chỉ báo định lượng cụ thể:
- NL1: Năng lực xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục học sinh dựa trên sự hiểu biết về học sinh và môi trường giáo dục.
- NL2: Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục.
- NL3: Năng lực xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường.
- NL4: Năng lực ứng xử sư phạm và tư vấn, hỗ trợ học sinh.
- NL5: Năng lực phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh.
- NL6: Năng lực đánh giá và phản hồi kết quả rèn luyện của học sinh.
Chương 3: Kết quả xây dựng công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên Trung học phổ thông
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm đo lường, kiểm định thống kê và thực trạng năng lực giáo dục của giáo viên THPT:
- Kết quả khảo sát thử nghiệm (N = 170): Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach's Alpha cho toàn bộ bảng hỏi và từng năng lực thành phần. Các item có hệ số tương quan biến - tổng (Corrected Item-Total Correlation) không đạt chuẩn (< 0.3) hoặc làm tăng đáng kể hệ số alpha nếu loại bỏ đã được tác giả sàng lọc, chỉnh sửa câu chữ hoặc loại trừ để hoàn thiện phiếu khảo sát chính thức.
- Kết quả khảo sát chính thức (N = 1.510):
- Độ tin cậy: Toàn bộ thang đo và 6 năng lực thành phần (NL1 đến NL6) đều đạt hệ số Cronbach's Alpha ở mức tin cậy cao theo các thang phân loại đo lường chuẩn.
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Được tiến hành qua các lần chạy (lần 1 đến lần 3/lần cuối) bằng phương pháp trích nhân tố phù hợp. Kết quả xác nhận các chỉ số KMO đạt yêu cầu, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (p < 0.001), giá trị Eigenvalue và tổng phương sai tích lũy giải thích chứng minh tính xác đáng của cấu trúc 6 nhân tố. Hệ số tải nhân tố (Factor Loading) của các item đều đạt ngưỡng cho phép.
- Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) trên AMOS: Mô hình đo lường 6 nhân tố đạt mức độ tương thích tốt với dữ liệu thực tế thông qua các chỉ số đo độ phù hợp mô hình (Model Fit) như CMIN/DF, CFI, TLI, RMSEA. Thang đo khẳng định được giá trị hội tụ (Convergent Validity) và giá trị phân biệt (Discriminant Validity).
- Thiết lập bảng quy chuẩn phân loại năng lực: Xác định các mức độ năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT dựa trên phân bố điểm số khảo sát chuẩn hóa.
- Phân tích thực trạng tự đánh giá:
- Đánh giá tổng thể và chi tiết theo từng chỉ báo của 6 năng lực thành phần (từ NL1 đến NL6) thông qua điểm trung bình (ĐTB) và độ lệch chuẩn (ĐLC).
- Thống kê mức độ tham gia tập huấn, bồi dưỡng của giáo viên về công tác chủ nhiệm lớp và giáo dục hướng nghiệp cho học sinh.
- Kiểm định khác biệt thống kê: Phân tích sự khác biệt trong kết quả tự đánh giá giữa các nhóm giáo viên theo đặc điểm nhân khẩu học gồm giới tính (nam, nữ) và loại hình trường (công lập, ngoài công lập).
- Bộ công cụ hoàn chỉnh và hướng dẫn sử dụng: Giới thiệu cấu trúc công cụ tự đánh giá chuẩn hóa, mục đích áp dụng và quy trình hướng dẫn giáo viên THPT sử dụng công cụ để lập kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa các quan điểm nghiên cứu về năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT; tổng hợp có hệ thống các quy định nhiệm vụ của nhà giáo và các bộ Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trong nước và quốc tế dưới góc độ đo lường đánh giá.
- Đề xuất và kiểm chứng cấu trúc năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT gồm 6 năng lực thành phần theo hướng tiếp cận năng lực bộ phận.
- Xác định hệ thống tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng và các chỉ báo hành vi có thể lượng hóa của năng lực giáo dục học sinh, bổ sung cơ sở khoa học cho lý luận đo lường đánh giá trong giáo dục phổ thông.
- Xác định quy trình thiết kế, thử nghiệm và chuẩn hóa công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh theo các quy chuẩn đo lường hiện đại.
Về mặt thực tiễn:
- Xây dựng thành công bộ công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh dành riêng cho giáo viên THPT, đảm bảo các chỉ số về độ tin cậy (Cronbach's Alpha) và độ giá trị (EFA, CFA, giá trị hội tụ và phân biệt) trên mẫu khảo sát quy mô lớn (1.510 giáo viên tại 18 tỉnh/thành phố).
- Thiết lập bảng xác định các mức độ năng lực chuẩn hóa, giúp giáo viên tự đối chiếu, nhận diện điểm mạnh, điểm hạn chế của bản thân để xây dựng kế hoạch rèn luyện cá nhân.
- Xây dựng tài liệu hướng dẫn quy trình sử dụng công cụ tự đánh giá, hỗ trợ cán bộ quản lý nhà trường có căn cứ khoa học để định hướng, thiết kế chương trình bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên THPT.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên giới hạn và phạm vi nghiên cứu do luận án xác định:
- Dữ liệu thu thập chủ yếu dựa trên phương pháp tự đánh giá của giáo viên qua bảng hỏi tự báo cáo (self-report), do đó kết quả phản ánh cảm nhận chủ quan của giáo viên và có thể chịu tác động nhất định của yếu tố tâm lý xã hội.
- Khách thể nghiên cứu chỉ giới hạn ở cấp THPT, chưa mở rộng khảo sát đối với giáo viên các cấp học khác như Tiểu học hay Trung học cơ sở.
- Không gian khảo sát giới hạn tại 18 tỉnh/thành phố của Việt Nam trong khung thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 04/2022.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được luận án gợi mở:
- Phát triển và hoàn thiện công cụ đánh giá năng lực giáo dục học sinh theo hướng tiếp cận đa chiều (đánh giá 360 độ): kết hợp tự đánh giá của giáo viên với đánh giá từ cán bộ quản lý, tổ chuyên môn, học sinh và cha mẹ học sinh.
- Ứng dụng công nghệ thông tin để số hóa công cụ tự đánh giá, xây dựng hệ thống phần mềm quản lý dữ liệu phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu công cụ đánh giá năng lực giáo dục sang cấp Tiểu học và Trung học cơ sở để đảm bảo tính liên thông trong hệ thống giáo dục phổ thông.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Đối với giáo viên THPT: Bộ công cụ chuẩn hóa và bản hướng dẫn quy trình tự đánh giá là tài liệu hỗ trợ trực tiếp giúp giáo viên tự rà soát năng lực giáo dục học sinh theo 6 thành tố, từ đó chủ động lập kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp.
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường THPT): Cung cấp khung tiêu chí và kết quả khảo sát thực trạng để phục vụ công tác phân công nhiệm vụ giáo viên chủ nhiệm, lập kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn định kỳ và quản trị chất lượng đội ngũ.
- Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên (các trường Đại học Sư phạm, khoa Sư phạm): Khung cấu trúc 6 năng lực thành phần và hệ thống chỉ báo là nguồn tư liệu hữu ích để rà soát, điều chỉnh chuẩn đầu ra và thiết kế các học phần về nghiệp vụ sư phạm, công tác chủ nhiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục, Quản lý giáo dục: Luận án là tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình thiết kế công cụ đo lường tâm lý - giáo dục, phương pháp lấy mẫu đa tầng đại diện 3 miền, và quy trình xử lý số liệu định lượng bằng SPSS và AMOS (Cronbach's Alpha, EFA, CFA).
Câu hỏi thường gặp
1. Cấu trúc năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT trong luận án gồm những thành phần nào?
Cấu trúc năng lực được xác lập gồm 6 năng lực thành phần: (1) Năng lực xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục học sinh dựa trên sự hiểu biết về học sinh và môi trường giáo dục; (2) Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục; (3) Năng lực xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường; (4) Năng lực ứng xử sư phạm và tư vấn, hỗ trợ học sinh; (5) Năng lực phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh; (6) Năng lực đánh giá và phản hồi kết quả rèn luyện của học sinh.
2. Mẫu khảo sát thử nghiệm và khảo sát chính thức của luận án được chọn như thế nào?
Khảo sát thử nghiệm được tiến hành trên 170 giáo viên THPT tại 5 trường thuộc 5 tỉnh/thành phố (Hà Nội, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Đắk Lắk, TP. Hồ Chí Minh). Khảo sát chính thức chuẩn hóa công cụ được tiến hành trên 1.510 giáo viên THPT tại 18 tỉnh/thành phố thuộc 3 miền: Miền Bắc (7 tỉnh: Hà Nội, Hà Nam, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hòa Bình, Yên Bái, Hà Giang); Miền Trung (6 tỉnh: Đà Nẵng, Quảng Bình, Ninh Thuận, Phú Yên, Đắk Lắk, Gia Lai); Miền Nam (5 tỉnh: TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bạc Liêu), bảo đảm tính đại diện cho khu vực thành thị, nông thôn và miền núi.
3. Quy trình chuẩn hóa công cụ tự đánh giá của luận án sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê nào?
Luận án sử dụng phần mềm Excel, SPSS và AMOS để xử lý số liệu qua các kỹ thuật: kiểm định hệ số tin cậy nhất quán nội tại Cronbach's Alpha và tương quan biến - tổng; phân tích nhân tố khám phá (EFA) qua 3 lần chạy để xác định số lượng nhân tố, giá trị Eigenvalue và phương sai tích lũy giải thích; phân tích nhân tố khẳng định (CFA) trên AMOS để kiểm định độ phù hợp mô hình (Model Fit), giá trị hội tụ và giá trị phân biệt; cùng các kiểm định t-test và ANOVA để so sánh khác biệt theo giới tính và loại hình trường.
4. Luận án vận dụng những cách tiếp cận nghiên cứu cơ bản nào?
Luận án được triển khai dựa trên 4 cách tiếp cận chính: tiếp cận theo chuẩn (xây dựng khung đánh giá gồm tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo hành vi để chuẩn hóa công cụ); tiếp cận hoạt động (năng lực hình thành, phát triển và biểu hiện thông qua hoạt động giáo dục thực tiễn); tiếp cận hệ thống (xem xét 6 năng lực thành phần có quan hệ biện chứng trong một chỉnh thể thống nhất); và tiếp cận phát triển (năng lực biến đổi từ thấp đến cao qua quá trình tự rèn luyện, tự bồi dưỡng).
5. Ý nghĩa thực tiễn của công cụ tự đánh giá do luận án xây dựng đối với giáo viên THPT là gì?
Công cụ cung cấp cho giáo viên THPT một bảng đo lường khách quan, chuẩn hóa để tự đối chiếu hành vi nghề nghiệp, xác định mức độ năng lực hiện tại của bản thân theo từng tiêu chí cụ thể. Thông qua bản hướng dẫn sử dụng kèm theo, giáo viên có thể nhận biết rõ điểm mạnh, điểm yếu trong công tác giáo dục học sinh để chủ động xây dựng kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Lại Thị Yến Ngọc là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục, giải quyết trọn vẹn mục tiêu xây dựng và chuẩn hóa công cụ tự đánh giá năng lực giáo dục học sinh của giáo viên THPT. Nghiên cứu đã xác lập cơ sở lý thuyết vững chắc với cấu trúc 6 năng lực thành phần, vận dụng quy trình thiết kế và chuẩn hóa công cụ nghiêm ngặt trên quy mô 1.510 giáo viên thuộc 18 tỉnh/thành phố trên cả nước bằng các phần mềm SPSS và AMOS. Kết quả nghiên cứu cung cấp bộ công cụ đo lường có độ tin cậy và độ giá trị cao, kèm bảng quy chuẩn phân loại mức độ và tài liệu hướng dẫn sử dụng, đóng góp thiết thực cho công tác bồi dưỡng giáo viên và quản trị chất lượng giáo dục trong bối cảnh đổi mới hiện nay.