CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cổ tức còn được gọi là lợi tức cổ phần. Chính sách cổ tức (Dividend policy) Chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận sau thuế của công ty sẽ được đem ra phân phối như thế nào, bao nhiêu được giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại có thể được dùng để kích thích tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai và do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần, trong khi cổ tức cung cấp cho các cổ đông một lợi nhuận hữu hình thường xuyên.
Một chính sách cổ tức bao gồm 2 nội dung chính là mức cổ tức và thời gian trả cổ tức. ĐO LƯỜNG CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 1. Tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend payout ratio) Tỷ lệ chi trả cổ tức phản ánh mức cổ tức mà cổ đông được hưởng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong thu nhập trong kỳ do công ty tạo ra và được đo lường như sau: Cổ tức mỗi cổ phần Tỷ lệ chi trả cổ tức = Thu nhập mỗi cổ phần (1.1) Đây là một trong những nhân tố quyết định đến giá thị trường của cổ phần. Ví dụ xem xét Thông báo chia cổ tức đợt 1 và 2 năm 2008 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (mã chứng khoán ACB) với mức cổ tức thanh toán cho cổ đông là 3.
Thu nhập mỗi cổ phần trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2008 là 3. Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức = 3. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 5 Điều này cho thấy, Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu đã dùng phần lớn lợi nhuận kiếm được trong năm để trả cho các cổ đông. Tỷ suất cổ tức (Dividend Yield or Dividend-Price ratio) Tỷ suất cổ tức phản ánh tỷ số cổ tức của cổ phiếu so với giá thị trường và được đo lường như sau: Cổ tức mỗi cổ phần Tỷ suất cổ tức = Giá thị trường mỗi cổ phần (1.2) Như ta đã biết, thu nhập của nhà đầu tư gồm 2 phần cổ tức và chênh lệch giá do chuyển nhượng cổ phần.
Nếu tỷ suất cổ tức của một cổ phần thấp điều đó chưa hẳn đã xấu bởi vì nhà đầu tư có thể chấp nhận tỷ lệ chi trả cổ tức thấp để dành phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư. Họ mong đợi một tăng trưởng nhanh trong cổ tức và hưởng được sự chênh lệch lớn của giá cổ phần. Ví dụ xem xét mức chia cổ tức năm 2008 của các công ty như sau: Đơn vị tính: VNĐ Mã chứng Công ty Cổ tức Giá thị trường Tỷ suất khoán 31/12/2008 cổ tức ABT Cổ phần Xuất nhập khẩu 4.300 16,5% thủy sản Bến Tre TCT Cổ phần Cáp treo núi Bà 5.500 6,9% Tây Ninh Tỷ suất cổ tức của ABT = 4.165 hoặc 16,5% Tỷ suất cổ tức của TCT = 5.069 hoặc 6,9% Ta thấy, Công ty Cổ phần Cáp treo núi Bà Tây Ninh trả cổ tức cao hơn cho mỗi cổ phần, nhưng với cùng vốn đầu tư 100.000 VNĐ vào cổ phiếu này thì chỉ nhận được 6.000 VNĐ thu nhập hằng năm, trong khi cùng với số tiền đó mà đầu tư vào Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Bến Tre thì số tiền nhận được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 6 là 16. Nếu một nhà đầu tư quan tâm thu nhập cổ tức mà không quan tâm thu nhập lãi vốn thì sẽ lựa chọn cổ phiếu ABT.
QUÁ TRÌNH TRẢ CỔ TỨC Các công ty ở Mỹ thường trả cổ tức hàng quý. Trong khi các công ty tại quốc gia khác thì thường trả cổ tức 2 lần/năm hay 1 lần/năm. Cổ tức thường được đề xuất bởi Hội đồng quản trị và sau đó được thông qua bởi Đại hội đồng cổ đông. Có vài mốc thời gian chính sau: Ngày công bố cổ tức (dividend declaration date): là ngày công ty công bố mức chi trả cổ tức.
Đây là ngày quan trọng bởi vì thông qua việc công bố cổ tức, công ty thông tin đến cho cổ đông là mức cổ tức là tăng, giảm, hay vẫn ổn định. Vì vậy, nếu công ty thay đổi cổ tức đột ngột thì đây là ngày mà thường trên thị trường phản ứng sẽ xuất hiện rất rõ. Ngày giao dịch cuối cùng được hưởng quyền (ex-dividend date): là ngày cuối cùng được hưởng cổ tức, tức là ngày nếu nhà đầu tư mua cổ phiếu sẽ được hưởng cổ tức. Sau ngày này, nhà đầu tư mua cổ phiếu thì sẽ không được hưởng cổ tức.
Giá tham chiếu của cổ phiếu sau ngày này thường được điều chỉnh xuống tương ứng với số cổ tức để đảm bảo bình đẳng giữa các cổ đông, tức là cổ đông được lợi về cổ tức thì bị thiệt về giá và ngược lại. Giá tham chiếu của cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng cổ tức được tính bằng giá đóng cửa của cổ phiếu trong phiên trước đó trừ đi giá trị cổ tức. Ptc = Pt-1 – Div (1.3) trong đó: Ptc : là giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền Pt-1 : giá chứng khoán của phiên giao dịch trước Div: giá trị cổ tức Ngày chốt danh sách cổ đông hay ngày đăng ký cuối cùng (holder-of- record date): là ngày c ô n g t y khóa sổ, chốt danh sách những cổ đông được hưởng cổ tức. Ở Việt Nam, do qui chế giao dịch là T+3 nên ngày chốt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 7 danh sách cổ đông thường sau 3 ngày so với ngày giao dịch cuối cùng được hưởng quyền.
Ngày thanh toán cổ tức (dividend payment date): là ngày mà các cổ đông sẽ nhận được cổ tức (thường là 2-3 tuần sau ngày chốt danh sách cổ đông). Qui trình trả cổ tức Ngày giao dịch cuối Ngày công bố cùng được Ngày chốt Ngày thanh hưởng quyền danh sách toán 2 đến 3 tuần 3 ngày 2 đến 3 tuần 1. CÁC CHÍNH SÁCH CHI TRẢ CỔ TỨC 1. Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động Chính sách này xác nhận rằng một doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi doanh nghiệp có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi.
Nói cách khác, chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động ngụ ý việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp là nên thay đổi từ năm này sang năm khác tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư có sẵn. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp thường cố gắng duy trì một mức cổ tức ổn định theo thời gian. Điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp đã bỏ qua nguyên lý về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động, mà bởi vì cổ tức có thể được duy trì ổn định hàng năm theo hai cách: − Thứ nhất, doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong những năm có nhu cầu vốn cao. Nếu đơn vị tiếp tục tăng trưởng, các giám đốc có thể tiếp tục thực hiện chiến lược này mà không nhất thiết phải giảm cổ tức.
− Thứ hai, doanh nghiệp có thể đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư và do đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 8 tăng tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần một cách tạm thời để tránh phải giảm cổ tức. Nếu doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư tốt trong suốt một năm nào đó thì chính sách vay nợ sẽ thích hợp hơn so với cắt giảm cổ tức. Sau đó, trong những năm tiếp theo, doanh nghiệp cần giữ lại lợi nhuận để đẩy tỷ số nợ trên vốn cổ phần về lại mức thích hợp. Ngoài ra, nguyên lý giữ lại lợi nhuận thụ động cũng đề xuất là các công ty “tăng trưởng” thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các công ty đang trong giai đoạn sung mãn (bão hòa).
Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích chính sách cổ tức tương đối ổn định. Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác. Chính sách cổ tức ổn định được ưu tiên vì các lý do sau: − Các nhà đầu tư cho rằng việc thay đổi chính sách cổ tức có nội dung hàm chứa thông tin – họ đánh đồng các thay đổi trong mức cổ tức của doanh nghiệp với mức sinh lợi. Cắt giảm cổ tức như một tín hiệu là tiềm năng lợi nhuận dài hạn của doanh nghiệp đã sụt giảm và ngược lại một sự gia tăng trong lợi nhuận như một minh chứng rằng lợi nhuận tương lai sẽ gia tăng.
− Nhiều cổ đông cần và lệ thuộc vào dòng cổ tức không đổi cho các nhu cầu lợi nhuận của mình. Mặc dù họ có thể bán bớt cổ phần nhưng do chi phí giao dịch và các lần bán với lô lẻ nên phương án này không thể thay thế hoàn hảo cho lợi nhuận cổ tức đều đặn. − Các giám đốc tài chính tin rằng các nhà đầu tư sẽ trả môt giá cao hơn cho cổ phần công ty chi trả cổ tức ổn định, do đó làm giảm chi phí sử dụng vốn cổ phần của doanh nghiệp. Tương tự, những gia tăng trong tỷ lệ cổ tức cũng thường bị trì hoãn cho đến khi các giám đốc tài chính công bố rằng các khoản lợi nhuận trong tương lai đủ cao đến mức độ thỏa mãn cổ tức lớn hơn.
Như vậy, tỷ lệ cổ tức có khuynh hướng đi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 9 theo sau một gia tăng trong lợi nhuận và đồng thời cũng thường trì hoãn lại trong một chừng mực nào đó. Các chính sách chi trả cổ tức khác Ngoài các công ty còn có thể sử dụng một số các chính sách cổ tức khác như: − Chính sách cổ tức có tỷ lệ chi trả không đổi. Nếu lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi nhiều từ năm này sang năm khác thì cổ tức cũng có thể dao động theo. − Chính sách chi trả một cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng thêm vào cuối năm.
Chính sách này đặc biệt thích hợp cho những doanh nghiệp có lợi nhuận hoặc nhu cầu tiền mặt biến động giữa năm này với năm khác, hoặc cả hai. Ngay cả khi doanh nghiệp có mức lợi nhuận thấp, các nhà đầu tư vẫn có thể trông cậy vào một mức chi trả cổ tức đều đặn của họ; còn khi lợi nhuận cao và không có nhu cầu sử dụng ngay nguồn tiền dôi ra này, các doanh nghiệp sẽ công bố một mức cổ tức thưởng cuối năm.