Đặt Vấn đề Ngày nay bản đồ số đóng vai trò quan trọng trong giao thông vận tải. Nó dần thay thế bản đồ trên giấy bởi các tính năng ưu việt như lưu chữ gọn nhẹ, truy vấn thông tin về đường đi, khoảng cách và vị trí một cách rễ dàng nhanh chóng thông qua GPS. Từ đó các phương pháp xây dựng bản đồ giao thông sử dụng GPS được nhiều nhóm tác giả đưa ra. Hướng tới xây dựng một bản đồ có dữ liệu và những tính toán chính xác giúp con người tham gia giao thông một cách hiệu quả nhất.
Sơ lƣợc về hệ thống định vị toàn cầu GPS Hệ thống GPS (Global Positioning System) được đưa vào sử dụng từ những năm 1960 bởi bộ quốc phòng Mỹ cho mục đích quân sự. Ngày nay, hệ thống này đã được mở rộng cho phép dùng vào các mục đích dân sự. Hệ thống GPS có thể chia làm ba phân đoạn: - Phân đoạn không gian: gồm 24 vệ tinh ( hiện tại sử dụng 21 vệ tinh và 3 vệ tinh dự phòng ) bay quanh quỹ đạo trái đất ở độ cao khoảng 20200km chu kỳ bay khoảng 12 giờ như hình dưới. 5 Luận Văn Thạc Sĩ HV: Đặng Văn Huy Hình 1: Ảnh 24 vệ tinh bay quanh quỹ đạo của trái đất - Phân đoạn điều khiển: bao gồm các thiết bị ở mặt đất cho phép giám sát và điều khiển các vệ tinh.
Hiện tại có 5 trạm điều khiển ở mặt đất. Trạm giám sát và điều khiển chính tọa lạc tại Colorado Springs (Mỹ). Bốn trạm khác phân bố tại Hawaii, Ascencio, Diego Garcia và Kwajalein trên khu vực xích đạo. Các trạm này có nhiệm vụ giám sát hoạt động của các vệ tinh và gửi tín hiệu điều khiển để hiệu chỉnh quỹ đạo các vệ tinh.
- Phân đoạn ngƣời dùng: bao gồm toàn bộ các thiết bị cho phép thu tín hiệu GPS để định vị tọa độ. Các thông tin có thể thu được từ thiết bị thu GPS phổ biến là: - Mã C/A (C/A code): đây là mã thô, độ chính xác thấp. - Mã P (P-code): đây là mã có độ chính xác cao. 6 Luận Văn Thạc Sĩ HV: Đặng Văn Huy Các mã C/A được trộn với thông báo hàng hải và truyền trong sóng mang L1.
Mã P được trộn với các thông báo hàng hải và truyền qua sóng mang L2. Các máy thu GPS có hai loại: - Một tần số (single frequency): chỉ thu được sóng L1. - Hai tần số (Dual frequency): thu được cả sóng L1 và L2. Độ chính xác của các thiết bị thu vào khoảng 1/100 bước sóng của mã.
Như vậy thiết bị một tần số (mã C/A) có độ chính xác sai lệch khoảng 3m và của thiết bị hai tần số (mã P) vào khoảng 0,3m. Tuy nhiên, độ chính xác của thiết bị thu còn phụ thuộc vào thời tiết và địa hình (núi, nhà cao tầng,…). Hệ thống GPS cung cấp tọa độ không gian ba chiều: vĩ độ, kinh độ và cao độ. - Cơ chế hoạt động: Vị trí của 1 điểm trên mặt đất, sẽ là tham chiếu so với vị trí của các vệ tinh và trung tâm tín hiệu trung gian mặt đất.
Vị trí của một điểm sẽ được tính toán dựa trên khoảng cách từ điểm đó đến các vệ tinh, và đến các trung tâm mặt đất. Khoảng cách này được đo bằng phương pháp rất đơn giản, đó là Quãng đường bằng Vận Tốc nhân với Thời Gian (s = v×t). Ở đây, vận tốc là vận tốc truyền tín hiệu (sóng), thời gian đo bằng đồng hồ nguyên tử có độ chính xác rất cao. Vì thế, khi nhận được tín hiệu từ vệ tinh, thiết bị sẽ tự tính toán ra khoảng cách giữa thiết bị và vệ tinh thông qua phương pháp trên.
Theo lý thuyết, chỉ cần có 3 vệ tinh là có thể tính toán được vị trí (tính ra tọa độ x,y,z trong không gian), tuy nhiên do có sai số nhất định nên hệ thống cần thêm 1 tham chiếu nữa, tức là thêm 1 vệ tinh nữa là 4 vệ tinh để có thể tính toán được chính xác. Nếu có nhiều hơn 4 vệ tinh thì nó cũng sẽ nhận và xử lý hết tín hiệu. Có thêm nhiều vệ tinh thì có thể bắt chính xác hơn. 7 Luận Văn Thạc Sĩ HV: Đặng Văn Huy Hình 2: Xác định vị trí một điểm trên mặt đất Cuối cùng, GPS tính toán vị trí rất chính xác nhưng vẫn luôn luôn có sai số.
Sai số này có thể là vài mét, hoặc vài trăm mét. Sai số hiển thị trên màn hình thiết bị chỉ là sai số có thể có, dựa trên phân tích tín hiệu thu nhận được. Bởi các vệ tinh, trái đất, và cả chúng ta đều di chuyển liên tục đồng thời trong thời gian thực. - Công nghệ Assisted-GPS (A-GPS).
Assisted-GPS: công nghệ hỗ trợ cho hệ thống GPS qua việc sử dụng các trạm trung gian trên mặt đất. Các trạm trung gian này chính là các cột phát sóng của nhà mạng trong khu vực. Và hệ thống A-GPS có 1 máy chủ để tính toán các tín hiệu và thông số mà nó nhận được. Thiết bị sử dụng A-GPS sẽ phải kết nối với máy chủ để nhận tín hiệu này (qua kết nối internet 3G, GPRS, wifi).
Như hình vẽ chúng ta có thể thấy A- GPS nhận tín hiệu từ 3 vệ tinh và 1 trạm mặt đất. Nhờ đó mà tín hiệu sẽ nhanh chóng và ổn định hơn. Vì trạm mặt đất ở gần hơn. Sóng khỏe hơn và trạm này cố định.
Nhờ 8 Luận Văn Thạc Sĩ HV: Đặng Văn Huy đó A-GPS hoạt động nhanh hơn và ổn định hơn. A-GPS không hoàn toàn thay thế GPS, nó chỉ có tác dụng hỗ trợ. Nếu ko có sóng di động, ko có liên lạc với máy chủ hay trạm BTS, thì thiết bị vẫn có thể định vị nhờ GPS như bình thường. Hình 3: Trạm trung gian hỗ trợ hệ thống GPS Trong luận văn này tôi có sử dụng công nghệ A-GPS hỗ chợ xác định tọa độ trong quá trình thu thập dữ liệu.
Công nghệ A-GPS sẽ giúp tính toán tọa độ nhanh và chính xác hơn vì vậy sai số sẽ nhỏ hơn. Các hƣớng tiếp cận xây dựng bản đồ giao thông sử dụng GPS tracks 1. Ứng dụng phân cụm Năm 2009 Cao, Lili, và John Krumm đề xuất hướng tiếp cận phân cụm để xây dựng bản đồ giao thông [1]. Nhóm tác giả trình bày về phương pháp chuyển đổi dấu vết GPS thô thu được vào một mạng lưới đường bộ định tuyến.
Bằng cách làm mịn, dõ con 9 Luận Văn Thạc Sĩ HV: Đặng Văn Huy đường được tạo bởi các dữ liệu GPS thô ban đầu. Nhóm tác giả đã sử dụng thuật toán phân cụm để tạo ra một đồ thị gồm các nút và các cạnh mô tả cho hướng đi trên mỗi con đường, tạo ra mạng lưới đường bộ định tuyến. Xuất phát từ những thách thức phải làm dõ những đường được tạo ra, do dữ liệu GPS thu được từ các xe bị lỗi hoặc do nhiễu tín hiệu GPS làm ảnh hưởng đến độ chính xác của những con đường đó. Do vậy nhóm tác giả đã đề xuất cách tiếp cận theo 2 bước.
Bước 1: làm rõ các con đường được tạo bởi dấu vết GPS lỗi bằng cách nhóm những dấu vết GPS và các điểm thuộc cùng một con đường lại với nhau. Bước 2: Căn cứ vào kết quả Bước 1, nhóm tác giả sử dụng thuật toán sinh ra một biểu đồ chỉ dẫn mô tả kết nối hình học của mạng lưới đường bộ. Qua kết quả thực nghiệm tạo ra đồ thị giữ được kết nối quan trọng và đặc tính hình học quan trọng nhất của mạng lưới đường bộ trong khu vực thử nghiệm. So sánh kết quả thu được với bản đồ Microsoft Bing hầu hết các tuyến đường là trùng khớp trong các trường hợp.
Nhưng có một số tuyến đường tạo ra không trùng khớp với bản đồ Microsoft Bing do hai nguyên nhân. - Con đường đó mới được xây dựng xong nhưng trong bản đồ Microsoft Bing chưa cập nhật hoặc những con đường đã bị phá bỏ để xây dựng, nhưng vẫn tồn tại trong bản đồ Microsoft Bing - Do dữ liệu thu được trên các đoạn đường cao tốc bị hạn chế tạo ra các phân đoạn không đáng tin cậy nên bị loại bỏ do vậy không có trong đồ thị. Nhóm tác giả đã đưa gia một phương pháp mới tạo ra bản đồ đường định tuyến từ dấu vết GPS thu thập được trên các xe tham gia giao thông. Đây là một phương pháp thay thế cho quá trình tốn kém về tiền bạc công sức, để tạo ra một bản đồ sử dụng các thiết bị GPS trên xe chuyên dụng.
10 Luận Văn Thạc Sĩ HV: Đặng Văn Huy 1. Thuật toán ƣớc lƣợng mật độ hạt nhân Năm 2012 Xuemei Liu , James Biagioni, Yin Wang và Yanmin Zhu đề xuất sử dụng thuật toán ước lượng mật độ hạt nhân để xây dựng ra bản đồ suy luận có độ chính xác cao[2]. Liu và các cộng sự của mình đã sử dụng thuật toán ước lượng mật độ hạt nhân (KDE) để sử lý, khôi phục lại dấu vết dữ liệu GPS có mật độ thấp từ đó cập nhật và suy luận ra bản đồ đường bộ có độ chính xác cao. Bài toán cần giải quyết của Liu là sử dụng thuật toán KDE để khắc phục dữ liệu GPS có mật độ thấp và nhiễu.
Thuật toán KDE được mô tả qua các bước: B1: bắt đầu bằng cách đếm xem có bao nhiêu đoạn đi qua mỗi điểm. B2: sau đó tìm ra những đoạn đường đồng mức dựa trên ngưỡng mật độ của các điểm nhất định (ngưỡng trên 80 được coi là đường giao thông). B3: dựa vào sơ đồ Voronoi trích xuất đường trung tâm B4: loại bỏ những đường viền bên ngoài của đường trung tâm và những đoạn có ngưỡng thấp. B5: so sánh và cập nhật với bản đồ thật mặt đất Bằng thử nghiệm thực tế kết quả thử nghiệm thuật toán với dữ liệu có mật độ thấp thu thập được tại chicago và dữ liệu taxi tại thượng hải đã tìm ra ngưỡng khoảng cách phù hợp giữa đường viền là 20m.
Thuật toán KDE đảm bảo tính chính xác cao loại bỏ được những đường viền và những đoạn đường ảo,tạo ra đường trung tâm phù hợp, loại bỏ được nhiễu từ dữ liệu GPS. Qua thử nghiệm bằng thực tế nhóm tác giả thấy thuật toán KDE thời gian xử lý nhanh và phù hợp trong xử lý bộ dữ liệu lớn. Thuật toán xử lý đƣờng cong tại các nút giao nhau Năm 2010 Chen, Daniel và cộng sự đã đưa ra những đề xuất giải pháp tái tạo lại mạng lưới đường bộ từ một tập hợp các dấu vết GPS của những con đường đảm bảo độ chính 11 Luận Văn Thạc Sĩ HV: Đặng Văn Huy xác trong xây dựng bản đồ theo các giả định hợp lý [3].