CHƯƠNG 1 THỦ TỤC XÁC ĐỊNH PHẦN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN TRONG KHỐI TÀI SẢN CHUNG NGOÀI TOÀ ÁN Theo khoản 3 Điều 3 Luật THADS năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật THADS năm 2014), thì “người phải thi hành án” là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành. Bản án, quyết định này bao gồm cả bản án, quyết định của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh 2, Trọng tài thương mại, trên cả lĩnh vực hình sự, hành chính chứ không riêng gì lĩnh vực dân sự. Điều kiện làm phát sinh nghĩa vụ THA là bản án, quyết định phải có hiệu lực pháp luật và người được THA có đơn yêu cầu THA (trừ một số bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được cho thi hành ngay). Ban đầu, việc THA được thực hiện dựa trên cơ sở tự nguyên thỏa thuận thi hành giữa bên phải THA với bên được THA trong thời hạn 10 ngày, hết thời gian này nếu các bên không thể tự thỏa thuận THA, thì CHV thực hiện các thủ tục xác minh điều kiện THA thông qua việc tự nguyện kê khai, cung cấp thông tin của người phải THA, hoặc qua biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ của CHV.
Trong thực tiễn, việc thỏa thuận THA giữa các bên rất ít khi xảy ra, mặt khác việc cung cấp thông tin của người phải THA không đem lại sự hiệu quả, đảm bảo quyền lợi cho người được THA, bởi người phải THA không phải bao giờ cũng sẵn sàng thi hành nghĩa vụ của họ, thậm chí nhiều trường hợp còn chây ỳ, cố tình chống đối, cản trở hoạt động THA.3 Một trong những nguyên tắc cơ bản của THA, là chỉ thi hành đối với tài sản thuộc sở hữu của người phải THA. Đó là các tài sản có đăng ký kê khai quyền sở hữu như QSDĐ, sở hữu nhà,…và tài sản không đăng ký kê khai quyền sở hữu như tiền bạc, giấy tờ có giá. Điểm a khoản 2 Điều 24 của Luật THADS năm 2014 quy định về việc chỉ thực hiện việc kê biên, xử lý tài sản chung là QSDĐ, nhà ở, tài sản khác gắn liền trên đất khi các tài sản khác không đủ để THA hoặc theo đề nghị của người phải THA chỉ định thi hành đối với phần tài sản của mình trong khối tài sản chung. 2 Theo Điều 116 Luật cạnh tranh năm 2018, có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/7/2019, thì “quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh” được thay thể bằng cụm từ “quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh”.
3 Trường đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, Nguyễn Công Bình & Bùi Thị Huyền (Chủ biên), Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr. 9 Như vậy, ngoại trừ việc người phải THA tự nguyện đề nghị thì việc kê biên, xử lý phần tài sản thuộc sở hữu chung có thứ tự ưu tiên thấp nhất và đảm bảo điều kiện luật định. Đây là nội dung hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ việc thi hành đối với tài sản có sở hữu chung làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sở hữu khác, trong khi người phải THA còn có tài sản khác đủ khả năng để thi hành nghĩa vụ, do đó để cân bằng lợi ích của những bên liên quan, tránh trường hợp phát sinh tranh chấp đối với tài sản thuộc sở hữu chung gây khó khăn, kéo dài hoạt động THA, thì cần đặt tài sản thuộc sở hữu chung này ở thứ tự thi hành thấp hơn các loại tài sản khác, là phù hợp. Đối với tài sản thuộc sở hữu chung là đối tượng bị kê biên, xử lý để THA, bao gồm sở hữu chung hợp nhất và sở hữu chung theo phần.
Sở hữu chung hợp nhất rõ ràng cần phải có biện pháp, thủ tục phân chia mới xác định được phần quyền sở hữu của người phải THA; còn sở hữu chung theo phần về mặt thuật ngữ pháp lý, đây là loại sở hữu đã xác định được phần quyền sở hữu của từng chủ sở hữu trong khối tài sản chung, nhưng trên thực tế, trường hợp này rất hiếm gặp, không có cơ sở vững chắc để thể hiện phần sở hữu theo phần, ví dụ: UBND huyện cấp QSDĐ cho hộ gia đình dựa trên nhân khẩu nhưng quyết định cấp đất chỉ ghi diện tích, hoặc có thêm thông tin số nhân khẩu trong hộ được cấp QSDĐ, nội dung về việc mỗi thành viên trong hộ được cấp diện tích bao nhiêu, hoàn toàn không được thể hiện một cách cụ thể, chi tiết. Để làm rõ vấn đề này, buộc phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ nhưng dù có thực hiện đi chăng nữa thì cũng gặp vô vàng khó khăn, do khâu bảo quản hồ sơ quản lý đất đai, các văn bản, quy định về chia đất thời kỳ trước còn khá lỏng lẻo, nhiều bất cập. Do vậy, không phải lúc nào việc phân định quyền sở hữu tài sản của người phải THA cũng được rõ ràng, đặc biệt là khi người phải THA có phần quyền sử dụng, quyền sở hữu thuộc khối tài sản chung với người khác – một trong những vấn đề gây trở ngại lớn đến hoạt động THA, cũng là một nội dung phức tạp, bởi vì ảnh hưởng đến việc thụ hưởng tài sản, đến quyền lợi được THA của người có liên quan. Mặt khác, quy định pháp luật hiện hành chỉ đặt ra một khoảng thời gian ngắn để thực hiện việc phân chia, xác định phần sở hữu trên, rõ ràng nội dung này còn xảy ra nhiều bất cập.
Chưa kể đến việc, nếu việc phân chia trên gây thiệt hại cho người có liên quan, CHV thậm chí còn phải chịu rủi ro về việc bồi thường trách nhiệm, đây là vấn đề thực trạng tạo tâm lý e ngại, ít nhiều cản trở phần nào hiệu quả của hoạt động THA. 10 Căn cứ Điều 74 Luật THADS năm 2014 thì người phải THA và những người có quyền sở hữu chung có quyền thỏa thuận phân chia tài sản hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc này. Nhưng cụ thể hóa hơn về quy định này, tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 65/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS, CHV có quyền xác định phần sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung của vợ chồng, hoặc của hộ gia đình. Như vậy, khi không yêu cầu Tòa án giải quyết thì các đương sự có quyền tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc được CHV phân chia trong một số trường hợp nhất định, đây là những nội dung công việc được thực hiện tại cơ quan THADS.
Mặc dù pháp luật quy định là vậy, nhưng trên thực tế việc triển khai thực hiện gặp không ít khó khăn, đối với việc đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản rất nhiều vấn đề được đặt ra để bảo đảm việc phân chia này không trái với quy định pháp luật, công bằng, không gây thiệt hại cho người THA,…Còn đối với việc CHV phân chia thì căn cứ vào đâu để chia, các biện pháp xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết được thực hiện ra sao,…Để đi sâu vào giải quyết vấn đề, tác giả sẽ trình bày cụ thể qua hai nội dung sau: 1. Thủ tục áp dụng trong trường hợp đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung 1. Xác định chủ thể có quyền tham gia thỏa thuận phân chia tài sản chung Tài sản chung bao gồm 02 loại, đó là tài sản chung hợp nhất và tài sản chung theo phần. Theo khoản 1 Điều 210 BLDS năm 2015, thì tài sản chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung, tiêu biểu thường gặp là tài sản chung của vợ chồng – tài sản chung hợp nhất có thể chia được.
Và ngược lại, sở hữu chung theo phần thì phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung, tiêu biểu cho hình thức sở hữu này là sở hữu chung của hộ gia đình. Về mặt thuật ngữ, quy định pháp luật thì tài sản thuộc sở hữu chung theo phần đã được xác định phần quyền sở hữu, tức không cần thiết phải thỏa thuận phân chia đối với loại tài sản này. Tuy nhiên trên thực tế, vẫn phát sinh rất nhiều trường hợp tiến hành phân chia tài sản theo phần để xác định phần quyền sở hữu của người phải THA. 11 Tình huống: Ông Lê Anh Thao là người có nghĩa vụ THA đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2015/HSST ngày 10/4/2015 của TAND tỉnh Bình Thuận.
Qua xác minh xác định được, ông Thao có một phần tài sản thuộc QSDĐ chung của hộ gia đình bà Phùng Thị Lân (mẹ của ông Thao) tại thửa đất số 04, tờ bản đồ 01D, diện tích 23.000m2, được UBND huyện Đức Linh cấp GCNQSDĐ số T 103863 ngày 23/12/1998. Thời điểm được xét cấp đất thì hộ bà Lân có 04 nhân khẩu, gồm bà Phùng Thị Lân, ông Lê Anh Thao, ông Lê Đức Thịnh và bà Lê Thị Oanh. CHV căn cứ vào số lượng nhân khẩu tại thời điểm xét cấp đất để xác định ông Thao, bà Lân, ông Thịnh và bà Oanh, mỗi người có quyền sử dụng đối 5750m2 diện tích đất thuộc thửa đất nêu trên. CHV thông báo nội dung phân chia này đến người phải THA và những chủ sử dụng chung, và ấn định thời hạn 30 ngày để phản đối theo hình thức tự thỏa thuận phân chia hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.4 Mặc dù, đây là QSDĐ cấp chung cho hộ gia đình, tức diện tích đất được cấp được tính dựa trên số nhân khẩu của hộ gia đình tại thời điểm xét cấp và mỗi thành viên được quyền sở hữu, sử dụng bằng nhau theo quy định tại Điều 212 BLDS năm 2015.
Nhưng trong vụ việc trên, cơ quan THADS vẫn phải tiến hành thủ tục xác định phần quyền sở hữu của ông Thao trong khối tài sản chung của hộ gia đình.