mở đầu cho các hoạt động rất đa dạng và phong phú sau này của hiệp hội các nhà nghiên cứu bệnh cây trên thế giới. Ở Việt Nam Các nhà nghiên cứu sau bệnh hại ở nƣớc ta đã kế thừa các thành tựu của ngành khoa học sinh thái học côn trùng, bệnh cây của thế giới.Từ những năm 1960, Hoàng Thị My khi điều tra cây rừng khu vực phía Nam cũng đã đề cập đến một số loại năm hại lá.Nguyễn Sỹ Giao năm 1966, đã phát hiện bệnh khô lá thông cây con.Tác giả cũng nghiên cứu đặc điểm sinh học và áp dụng một 4 số thuốc hóa học để phòng chống bệnh hại này.Chủ yếu dùng thuốc Borđô. Đến năm 1969, Nguyễn Sỹ Giao đề nghị gọi bệnh này là rơm lá thông và phát hiện nguyên nhân gây bệnh là do nấm Cerospoda pinidensflorae HorietNambu. Những nghiên cứu về sinh thái học côn trùng của Vũ Quang Côn, Phạm Bình Quyền, Phạm Ngọc Anh…Năm 1971, Trần Văn Mão đã công bố nhiều tài liệu về nấm bệnh trên các loài cây rừng nhƣ Trẩu, Quế, Hồi, Sở…điều kiện phát bệnh và biện pháp phòng trừ, hàng trăm nghiên cứu về bệnh cây rừng đã đƣợc đề cập.
Năm 1975, Uhlig cùng các nhà khoa học của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp và trƣờng Đại Học lâm nghiệp, nghiên cứu và thử nghiệm một số loại thuốc hóa học để phòng chống bệnh rơm lá thông ở Quảng Ninh. Năm 1990, một đoàn đánh giá tổng hợp của FAO/UNDP và chính phủ Việt Nam đã thực hiện đánh giá các dự án VIE/86/026, VIE/86/027 và VIE/86/028 và đã chính thức báo cáo về đe dọa nghiêm trọng ở Đồng Nai và Sông Bé và chuẩn bị một dự án kỹ thuật tổng hợp để trình lên chính phủ, FAO và UNDP. Đầu những năm 1990, Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ đã nghiên cứu đánh giá thiệt hại do nấm bệnh Bạch đàn gây ra trong các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Sông Bé và khu vực phía Nam. Ngoài các công trình nghiên cứu kể trên còn một số chuyên gia bệnh cây ngƣời Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc đã đến Việt Nam nghiên cứu các loại bệnh hại cây trồng nhƣ Hodge (1990), Sharma (1994) đã báo cáo chuyên đề bệnh cây tại Hà Nội.
Nghiên cứu bệnh hại Thông (Pinus) Theo số liệu kiểm kê rừng Việt Nam năm 2001 tính đến hết tháng 12 năm 1999 thì cả nƣớc ta có 1.394 ha rừng trồng, trong đó diện tích rừng các loài thông chiếm 218.056 ha (chủ yếu là thông nhựa, thông mã vĩ, thông ba lá và thông caribe) đứng thứ 3 sau bạch đàn và keo. Cây thông là một trong những loài cây có giá trị kinh tế cao, gỗ cho xây dựng, làm giấy, nhựa thông còn dùng nhiều trong ngành công nghiệp sản xuất sơn, vecni, vật liệu cách 5 điện và các mặt hàng xây dựng khác.Cây thông có khả năng phát triển tốt trên đất trồng đồi núi trọc, đất thoái hóa cằn cỗi mà ngoài cây thông không thể trồng loài cây nào khác đƣợc.Chính vì vậy, cây thông là một loài cây trồng rừng chính trong chƣơng trình 5 triệu ha rừng của nƣớc ta.Tuy nhiên, việc gây trồng và phát triển cây thông cũng gặp nhiều trở ngại, một trong những vấn đề ấy là sâu, bệnh hại cây thông.Sâu bệnh hại thông không chỉ gây bệnh hại rừng trồng mà còn xuất hiện tại cả vƣờn ƣơm.Riêng về bệnh hại thông trong thời gian qua đã đƣợc quan tâm và chú ý của các nhà quản lí, sản xuất và đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh và đƣa ra giải pháp quản lí dịch bệnh có hiệu quả. Một số bệnh điển hình ảnh hƣởng đến sản xuất cây non ở vƣờn ƣơm và sinh trƣởng ở rừng trồng đã đƣợc điều tra nghiên cứu là bệnh thối cổ rễ cây non ở vƣờn ƣơm, bệnh rơm lá thông, bệnh vàng còi, bệnh tuyến trùng hại thông ba lá và bệnh khô xám lá thông. Trong thời gian gần đây, một số rừng trồng thông ở nƣớc ta, đặc biệt là Thông nhựa và Thông mã vĩ ở một số vùng nhƣ Chƣơng Mỹ - Hà Tây, Lƣơng Sơn- Hòa Bình, Hà Trung-Thanh Hóa và Đô Lƣơng-Nghệ An đã xuất hiện triệu chứng lá thông bị khô có màu nâu hơi đỏ.
Vào đầu màu mƣa, bệnh xuất hiện ở tầng dƣới của tán lá, lá bị nhiễm bệnh bị khô dần từ đầu lá vào đến giữa lá và sau đó toàn bộ lá bị khô. Đến cuối mùa mƣa, bệnh lan dần lên phía trên của tán lá và trƣờng hợp bệnh nặng toàn bộ lá bị khô. Để tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh và tìm các giải pháp hạn chế ảnh hƣởng của bệnh hại lá thông, tôi tiến hành thu mẫu bệnh tại VQG Ba Vì để nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh, xác định tỷ lệ bị hại và mức độ bị hại; ảnh hƣởng của các nhân tố tới sự phát sinh, phát triển của bệnh hại và từ đó đề xuất giải pháp hạn chế ảnh hƣởng của bệnh hại tới cây Thông tại khu vực nghiên cứu. 6 CHƢƠNG II ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU Vƣờn Quốc Gia Ba Vì là một trong 30 vƣờn quốc gia có những đặc điểm riêng mang tính chất riêng về mặt sinh thái, phân bố thực vật, động vật và các loài sinh vật khác.
Theo tài liệu của vƣờn quốc gia Ba Vì, huyện Ba Vì và Vƣờn Quôc Gia Ba Vì có những đặc điểm cơ bản sau: 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý - Vị trí: Vƣờn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 16 xã thuộc 5 huyện là Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai thuộc Thành phố Hà Nội và huyện Lƣơng Sơn, Kỳ Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình, cách Thủ đô 50 km về phía Tây theo trục đƣờng Láng – Hoà Lạc, qua Thị xã Sơn Tây. Hệ thống giao thông đi lại thuận tiện.
- Toạ độ địa lý: Từ 20°55 - 21°07' Vĩ độ Bắc. Từ 105°18' - 105°30' Kinh độ Đông. - Ranh giới Vƣờn Quốc gia: + Phía Bắc giáp các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh; huyện Ba Vì, Hà Nội. + Phía Nam giáp các xã Phúc Tiến, Dân Hoà thuộc huyện Kì Sơn, xã Lâm Sơn thuộc huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hoà Bình.
+ Phía Đông giáp các xã Vân Hoà, Yên Bài, thuộc huyện Ba Vì; Yên Bình, Yên Trung, Tiến Xuân, huyện Thạch Thất; xã Đồng Xuân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; xã Yên Quang, huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hoà Bình. + Phía Tây giáp các xã xã Khánh Thƣợng, Minh Quang huyện Ba Vì, Hà Nội và xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình. Tổng diện tích tự nhiên: 10. Địa hình, địa thế Ba Vì là một vùng núi trung bình, núi thấp và đồi trung du tiếp giáp với vùng bán sơn địa.
Vùng núi gồm các dãy núi liên tiếp, nổi lên rõ nét là các đỉnh nhƣ Đỉnh Vua cao 1296m, Đỉnh Tản Viên cao 1227 m, Đỉnh Ngọc Hoa 7 cao 1131m, Đỉnh Viên Nam cao 1. Địa hình bị chia cắt bởi những khe và thung lũng, suối hẹp. Hƣớng của cả hai khối núi theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao của hai khối núi giảm dần ra xung quanh tạo nên một số bậc địa hình đặc trƣng với các đỉnh, dải đồi lƣợn sóng nối liền hai khối núi với nhau. Sƣờn của hai khối núi Ba Vì và Viên Nam có dạng bất đối xứng, sƣờn Tây dốc hơn sƣờn Đông.
Hƣớng dốc chính thoải dần theo hƣớng Đông Bắc – Tây Nam, độ dốc bình quân > 250. Nhiều nơi có độc dốc lớn >350. Địa chất, đất đai Theo tài liệu nghiên cứu địa chất, địa mạo khu vực Ba Vì của Khoa Địa lý, Trƣờng Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005) và kết quả điều tra lập địa bổ sung năm 2008 cho thấy: Nền địa chất khu vực có phân vị địa tầng cổ nhất thuộc các đá biến chất tuổi Proterozoi, có thể tổng hợp theo các nhóm đá điển hình sau: - Nhóm đá macma kiềm và trung tính: điển hình có đá Diorit, poocphiarit tƣơng đôi mềm. Nhóm đá này khi phong hoá cho mẫu chất tƣơng đối mịn và tƣơng đối giầu dinh dƣỡng.
- Nhóm đá trầm tích: Cát kết, phiến thạch sét, cuội kết hình thành từ đá gốc macma kiềm và trung tính. Nhóm đá này khi phong hoá tạo thành loại đất khá màu mỡ. - Nhóm đá biến chất phân bố thành dải từ khu vực đá Chông đến Ngòi Lát chiếm toàn bộ diện tích sƣờn phía Đông và khu vực Đồng Vọng, xóm Sảng. Thành phần chính của nhóm này gồm đá Diệp thạch kết tinh, đá Gnai, Diệp thạch xeerrit lẫn các lớp quaczit.
- Nhóm đá vôi phân bố khu vực núi Chẹ, xóm Mít, núi Ma, xóm Quýt. - Nhóm đá trầm tích phun trào nằm rải rác trong vùng. Với thành phần đá mẹ rất phong phú và đa dạng đã hình thành nên nhiều loại đất khác nhau. 8 - Đất Feralit mùn vàng nhạt: Phân bố ở đai cao 700m trở lên, phát triển trên đá macma kiềm và trung tính.
Đất có màu vàng nhạt, tầng mùn khá dầy, tầng đất mỏng đến trung bình. Quá trình Feralit kém điển hình đồng thời quá trình mùn hoá tƣơng đối mạnh là do quy luật đai cao (chế độ núi trung bình). - Đất Feralit đỏ vàng: Phân bố ở độ cao dƣới 700m, phát triển trên đá macma kiềm, trung tính, và các loại đá khác. Đất có màu vàng, đỏ, nâu, mầu sắc tƣơng đối rực rỡ, tầng mùn mỏng, tầng đất mỏng đến dày.
Tái sinh cây gỗ khá phỗ biến. Đất ở đây có khả năng phù hợp với nhiều loài cây trồng lâm nghiệp. - Tổ hợp đất thung lũng bao gồm đất phù sa mới, phù sa cũ, đất sƣờn tích, lũ tích, sản phẩm hỗn hợp, phù hợp với canh tác nông nghiệp. Khí hậu thủy văn 2.
Khí hậu Theo tài liệu quan sát khí tƣợng thuỷ văn biến động trong những năm gần đây của huyện các huyện Ba Vì, Lƣơng Sơn, Kì Sơn cho biết, tại khu vực Ba Vì có nhiệt độ bình quân năm là 23,40C. ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,70C; nhiệt độ tối cao lên tới 420C. ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm là 20,6oC; Từ độ cao 1.000m trở lên nhiệt độ chỉ còn 160C. Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,20C.Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,10C.Lƣợng mƣa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 7, tháng 8.
Độ ẩm không khí 86,1%. Vùng thấp thƣờng khô hanh vào tháng 1, tháng 12.Từ cốt 400 trở lên, khí hậu ít khô hanh hơn khu vực dƣới cốt 400.Mùa đông có gió Bắc với tần suất > 40%. Mùa hạ có gió Đông Nam với tần suất 25% và hƣớng Tây Nam. Thủy văn và tài nguyên nước Hệ thống suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thƣợng nguồn Núi Ba Vì và Núi Viên Nam.