Tổng quan nghiên cứu

Trong công nghiệp năng lượng nguyên tử, urani là nguyên liệu cốt lõi để duy trì các phản ứng phân hạch dây chuyền sinh nhiệt trong các lò phản ứng hạt nhân. Trong tự nhiên, quặng urani tồn tại chủ yếu dưới ba dạng đồng vị gồm urani-238 chiếm khoảng 99,284%, urani-235 chiếm 0,711% và urani-234 chiếm một tỷ lệ rất nhỏ khoảng 0,0054%. Do chỉ có urani-235 sở hữu tiết diện hấp thụ neutron nhiệt lớn để xảy ra phân hạch tự phát, quá trình làm giàu nhiên liệu lên mức 3% đến 5% cho các lò phản ứng nước sôi hoặc nước áp lực là bắt buộc. Theo tính toán thực tế trong công nghệ làm giàu bằng phương pháp ly tâm khí, để sản xuất được 1 tấn urani làm giàu ở mức 3,6% urani-235, ngành sản xuất cần tiêu tốn khoảng 8,05 tấn urani tự nhiên và đồng thời thải ra khoảng 7,05 tấn urani nghèo với hàm lượng urani-235 chỉ còn dưới 0,3%.

Vấn đề nghiên cứu then chốt được đặt ra là việc xác định chính xác các thông số vật lý của thanh nhiên liệu như độ giàu urani-235, tỷ số thành phần đồng vị và tuổi của nhiên liệu trước và sau khi đưa vào lò phản ứng. Nghiên cứu này đặt mục tiêu phát triển và hoàn thiện quy trình phân tích không phá hủy mẫu thông qua việc đo phổ bức xạ gamma năng lượng thấp dưới 300 keV, đặc biệt tập trung vào dải dưới 100 keV kết hợp các vạch tia X đặc trưng. Đề tài được triển khai thực nghiệm tại Bộ môn Vật lý Hạt nhân, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội với sự hỗ trợ nguồn mẫu và số liệu từ Viện Kỹ thuật Hạt nhân Việt Nam cùng dữ liệu chuẩn hạt nhân của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện rõ qua việc giúp rút ngắn thời gian phân tích từ vài ngày xuống còn vài giờ, bảo toàn hoàn toàn cấu trúc vật lý của thanh nhiên liệu với độ chính xác cao và kiểm soát sai số phân tích độ giàu ở mức dưới 3%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của các quy luật vật lý hạt nhân kinh điển:

  • Định luật cân bằng phóng xạ thế kỷ trong các chuỗi phân rã tự nhiên: Dãy phân rã urani-238 với chu kỳ bán rã 4,47 tỉ năm và dãy urani-235 với chu kỳ bán rã 704 triệu năm đều kết thúc tại các đồng vị chì bền. Khi chu kỳ bán rã của hạt nhân mẹ lớn hơn rất nhiều so với các hạt nhân con cháu, trạng thái cân bằng phóng xạ được thiết lập. Lúc này, tích số giữa hằng số phân rã và số lượng hạt nhân của mọi thành viên trong dãy là bằng nhau. Do đó, việc xác định hoạt độ của các hạt nhân con phát bức xạ thuận lợi như thori-234 hay thori-231 sẽ cho phép suy ngược trực tiếp ra hàm lượng hạt nhân mẹ urani-238 và urani-235.
  • Lý thuyết tương tác bức xạ gamma và tia X mềm với vật chất bán dẫn: Quá trình hấp thụ photon qua hiệu ứng quang điện và tán xạ Compton tạo ra các cặp điện tử - lỗ trống trong tinh thể gecmani siêu tinh khiết. Năng lượng trung bình để tạo một cặp điện tích trong gecmani ở nhiệt độ 90 K là khoảng 2,96 eV, mang lại độ phân giải năng lượng vượt trội so với các loại đầu dò nhấp nháy truyền thống.
  • Kỹ thuật chuẩn hiệu suất nội: Phương pháp này khắc phục triệt để hiện tượng tự hấp thụ photon năng lượng thấp trong các mẫu vật liệu urani dày có tỷ trọng cao (lớn hơn 18,9 g/cm3) mà không cần chuẩn bị mẫu chuẩn có cùng cấu trúc hình học. Bằng cách xây dựng hàm hiệu suất ghi tương đối từ nhiều vạch phổ của chính các đồng vị có trong mẫu, tỷ số hoạt độ và tỷ số khối lượng được xác định một cách trực tiếp và chuẩn xác.

Các khái niệm trọng tâm bao gồm: độ giàu urani, độ phân giải năng lượng theo độ rộng nửa chiều cao cực đại, tỷ số đỉnh trên phông, và hệ số phân nhánh bức xạ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lựa chọn cỡ mẫu gồm 3 đối tượng đại diện: 1 mẫu bột chuẩn urani do Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế cung cấp với độ giàu xác định trước là 0,36% urani-235 nhằm mục đích kiểm chuẩn hệ thống, cùng 2 mẫu khối vật liệu urani chưa biết trước độ giàu được cung cấp bởi Viện Kỹ thuật Hạt nhân Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích này đảm bảo kiểm tra tính khả thi của kỹ thuật đo trên cả hai dạng hình thái vật lý: bột mịn đồng nhất và khối dị hình bất kỳ.

Lý do lựa chọn phương pháp phổ kế gamma năng lượng thấp là nhằm tận dụng vùng hiệu suất ghi cực đại (trên 10% đến 20%) của đầu dò bán dẫn gecmani dải rộng model BE5030 do hãng Canberra sản xuất. Đầu dò này có diện tích hiệu dụng 5000 mm2, chiều dày tinh thể 31 mm, đường kính 80,5 mm, được làm lạnh bằng điện từ 300 K xuống 90 K trong 24 giờ. Hệ thống đo được bảo vệ bằng buồng chì phông thấp dày 10 cm, vỏ ngoài thép cacbon 9,5 mm cùng lớp lót kẽm 1 mm và đồng 1,6 mm với tổng khối lượng 950 kg. Mẫu bột chuẩn được nhốt kín và đo liên tục trong 61 giờ 43 phút để đảm bảo số đếm thống kê cao. Việc thu nhận và phân tích phổ được tiến hành tự động qua phần mềm Genie 2000 kết hợp phần mềm GammaVision 6.01 và OriginPro 8.5 để làm khớp đa thức bóc tách các đỉnh phổ chập.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm trên dải năng lượng dưới 100 keV đã mang lại các phát hiện khoa học quan trọng:

  • Phân tách thành công cụm đỉnh phổ chập phức tạp: Bằng việc áp dụng hàm Gauss cho các bức xạ gamma và hàm Voigt cho các tia X đặc trưng, nghiên cứu đã bóc tách chính xác các vạch phổ nằm sát nhau. Điển hình là việc phân lập thành công vạch gamma 84,214 keV của thori-231 (chuỗi urani-235) khỏi vạch 84,37 keV của thori-234 (chuỗi urani-238), cùng cụm tam đỉnh tại 92,38 keV, 92,79 keV và vạch tia X 93,356 keV với hệ số tương quan làm khớp đạt mức rất cao trên 0,998.
  • Xây dựng đường cong hiệu suất ghi thực nghiệm tối ưu: Nghiên cứu đã mô hình hóa thành công hàm hiệu suất ghi tương đối tại vùng năng lượng từ 45 keV đến 100 keV dưới dạng hàm bậc 2 với phương trình khớp: $f(E) = -0,00028994 E^2 + 0,05125 E - 1,12969$. Hàm khớp này giúp giảm độ lệch chuẩn tương đối của hiệu suất ghi xuống mức dưới 2,5%.
  • Xác định chuẩn xác độ giàu mẫu chuẩn: Đối với mẫu bột chuẩn do Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế cung cấp, phương pháp đo phổ năng lượng thấp đã xác định hàm lượng urani-235 đạt mức 0,358% $\pm$ 0,012%, so với giá trị danh định chuẩn là 0,36%, độ lệch tuyệt đối chỉ là 0,002% (tương đương sai số tương đối chỉ khoảng 0,55%).
  • Định lượng hai mẫu urani thực tế: Kết quả phân tích hai khối vật liệu urani từ Viện Kỹ thuật Hạt nhân cho thấy tỷ số hoạt độ urani-235 so với urani-238 nằm trong khoảng từ 0,045 đến 0,047, tương ứng với hàm lượng khối lượng urani-235 dao động từ 0,25% đến 0,71%, khẳng định hai mẫu này thuộc nhóm urani nghèo và urani tự nhiên.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu thực nghiệm được trực quan hóa qua biểu đồ phổ đa kênh 16.000 kênh và đồ thị khớp hàm hiệu suất ghi theo năng lượng photon. Bảng số liệu phân tích diện tích đỉnh cho thấy tốc độ đếm thực tế của vạch gamma 63,29 keV đạt khoảng 0,42 xung/giây, trong khi cụm đỉnh kép 92,38 - 92,79 keV đạt tổng tốc độ đếm vượt 1,15 xung/giây, mang lại độ chính xác thống kê rất cao.

Khi so sánh với phương pháp truyền thống đo đỉnh đơn lẻ 185,72 keV của urani-235, phương pháp truyền thống thường bị sai lệch lớn do đỉnh này bị chập với đỉnh 186,21 keV của radi-226 nếu mẫu chưa đạt cân bằng phóng xạ tuyệt đối. Hơn nữa, các phương pháp phân tích phá hủy mẫu như khối phổ kế cảm ứng plasma hay đo phổ alpha tuy đạt độ chính xác cao nhưng đòi hỏi quy trình hòa tan mẫu bằng axit nitric phức tạp kéo dài hơn 48 giờ và phá hủy hoàn toàn mẫu vật. Ngược lại, kỹ thuật đo phổ bức xạ gamma năng lượng thấp kết hợp tia X và chuẩn trong đã loại trừ được ảnh hưởng của hình học đo và sự tự hấp thụ photon của mẫu, đem lại độ tin cậy tương đương các phép đo khối phổ mà vẫn giữ nguyên trạng thái thanh nhiên liệu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện và đưa kỹ thuật phân tích không phá hủy mẫu vào ứng dụng thực tiễn trong ngành năng lượng nguyên tử, các giải pháp cụ thể được đề xuất như sau:

  • Chuẩn hóa quy trình đo lường không phá hủy mẫu cấp quốc gia: Cục An toàn Bức xạ và Hạt nhân phối hợp cùng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật phân tích độ giàu urani dựa trên hệ phổ kế bán dẫn gecmani dải rộng, đặt mục tiêu duy trì sai số phân tích dưới 1,5% trong thời gian ghi phổ dưới 24 giờ, hoàn thành lộ trình ban hành trong giai đoạn 2024 - 2026.
  • Tối ưu hóa hệ thống che chắn phông phóng xạ: Đầu tư nâng cấp buồng chì bảo vệ đầu dò bằng việc bổ sung lớp lót kép gồm cadmi dày 1 mm và đồng tinh khiết dày 2 mm tại các phòng thí nghiệm hạt nhân trọng điểm trong vòng 12 tháng tới, nhằm triệt tiêu thêm khoảng 40% phông bức xạ huỳnh quang và tán xạ Compton thứ cấp ở dải dưới 100 keV.
  • Ứng dụng phần mềm tự động bóc tách đỉnh phổ chập: Giao các nhóm nghiên cứu tại các trường đại học phát triển thuật toán phân tích phổ tích hợp trí tuệ nhân tạo và phương pháp làm khớp phi tuyến Levenberg-Marquardt trong 18 tháng tới, giúp tự động nhận diện và bóc tách các vạch tia X đặc trưng mà không phụ thuộc vào thao tác thủ công của kiểm nghiệm viên.
  • Xây dựng ngân hàng dữ liệu phổ chuẩn nhiên liệu hạt nhân: Thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa lưu trữ hơn 500 bộ phổ gamma năng lượng thấp của các loại nhiên liệu mới, nhiên liệu tái sinh và thanh nhiên liệu đã qua sử dụng trước năm 2027, phục vụ kiểm soát nguồn gốc và tuổi của vật liệu phân hạch nhập khẩu với độ tin cậy trên 99%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho các nhóm đối tượng sau:

  • Cán bộ quản lý an toàn và thanh sát hạt nhân: Ứng dụng quy trình phân tích không phá hủy mẫu để thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm kê các vật liệu hạt nhân tại các lò phản ứng nghiên cứu, kho lưu giữ nhiên liệu mà không làm thay đổi cấu trúc thanh nhiên liệu.
  • Kỹ sư vận hành lò phản ứng và nhà máy điện hạt nhân: Sử dụng tài liệu để kiểm tra độ giàu urani-235, giám sát độ sạch của nhiên liệu và nhận diện các đồng vị urani-232, urani-236 trong các thanh nhiên liệu tái sinh nhằm tối ưu hóa chu trình cháy của tâm lò.
  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Vật lý hạt nhân: Tham khảo phương pháp xây dựng đường cong hiệu suất nội, kỹ thuật tách đỉnh chập bằng hàm Gauss và hàm Voigt, cùng phương pháp lan truyền sai số thực nghiệm trong đo đạc bức xạ.
  • Chuyên viên phòng thí nghiệm phân tích phóng xạ môi trường: Vận dụng kỹ thuật đo tia X và gamma mềm để định lượng nhanh hàm lượng urani tự nhiên trong các mẫu quặng địa chất, đất đá và trầm tích có nồng độ thấp từ vài ppm đến vài chục ppm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nên sử dụng dải năng lượng thấp dưới 100 keV thay vì đỉnh 185,72 keV truyền thống?

Đỉnh 185,72 keV của urani-235 thường bị chồng lấn với đỉnh 186,21 keV của radi-226 thuộc chuỗi urani-238, đòi hỏi kỹ thuật nhốt mẫu phức tạp để chờ cân bằng phóng xạ. Trong khi đó, các vạch gamma và tia X dưới 100 keV như 49,55 keV, 84,21 keV và 93,36 keV tận dụng được hiệu suất ghi cực đại của đầu dò bán dẫn dải rộng, giúp rút ngắn thời gian đo và định lượng đồng thời cả urani-235 lẫn urani-238.

Đầu dò bán dẫn gecmani dải rộng có ưu thế gì nổi bật so với đầu dò đồng trục thông thường?

Đầu dò bán dẫn gecmani dải rộng sở hữu thiết kế tinh thể bản mỏng to bản với diện tích 5000 mm2 và chiều dày 31 mm, lớp tiếp xúc cửa sổ sổ bề mặt cực mỏng. Cấu trúc này tối ưu hóa độ phân giải năng lượng chỉ từ 0,5 đến 0,8 keV ở dải năng lượng thấp, đồng thời giảm thiểu đáng kể các tương tác tán xạ Compton từ các nguồn bức xạ năng lượng cao bên ngoài.

Kỹ thuật chuẩn hiệu suất nội giải quyết bài toán tự hấp thụ bức xạ của mẫu như thế nào?

Urani là kim loại nặng có khối lượng riêng xấp xỉ 19 g/cm3, khiến các bức xạ năng lượng thấp bị suy giảm mạnh khi xuyên qua mẫu. Kỹ thuật chuẩn trong sử dụng chính các vạch phát xạ của các đồng vị có sẵn trong mẫu để lập đường cong hiệu suất tương đối, qua đó triệt tiêu hoàn toàn sự phụ thuộc vào hình học, kích thước hay độ dày của vật liệu cần phân tích.

Làm thế nào để nhận biết thanh nhiên liệu là sản phẩm mới sản xuất hay nhiên liệu tái sinh?

Thanh nhiên liệu tái chế sau khi qua lò phản ứng sẽ chứa đồng vị nhân tạo urani-236 và đặc biệt là chuỗi phân rã của urani-232 với chu kỳ bán rã 68,9 năm. Phổ kế gamma năng lượng thấp sẽ ghi nhận sự xuất hiện của các vạch phát xạ đặc trưng từ thori-228 hoặc tali-208, từ đó xác định chính xác nguồn gốc và tuổi của thanh nhiên liệu.

Các nguồn sai số chính trong phép đo phổ gamma năng lượng thấp được kiểm soát ra sao?

Sai số phát sinh chủ yếu từ thăng giáng thống kê số đếm Poisson, sai số làm khớp bóc tách đỉnh chập và sai số số liệu hạt nhân tra cứu. Bằng việc kéo dài thời gian đo mẫu lên trên 60 giờ, bố trí buồng chì đa lớp và áp dụng hàm Voigt cho đỉnh tia X, tổng sai số tương đối của phép đo được kiểm soát chặt chẽ ở mức dưới 3%.

Kết luận

  • Đề tài đã nghiên cứu và ứng dụng thành công phương pháp đo phổ bức xạ gamma năng lượng thấp và tia X mềm dưới 100 keV để xác định các đặc trưng vật lý của thanh nhiên liệu hạt nhân.
  • Xây dựng hoàn chỉnh đường cong hiệu suất ghi tương đối thông qua kỹ thuật chuẩn trong, giải quyết triệt để vấn đề tự hấp thụ photon và loại bỏ sự phụ thuộc vào hình học mẫu đo.
  • Tối ưu hóa quy trình toán học bóc tách các cụm đỉnh phổ chập phức tạp tại 49,55 keV, 84,21 keV và 92,38 - 93,36 keV bằng việc kết hợp linh hoạt giữa hàm Gauss và hàm Voigt trên phần mềm OriginPro 8.5.
  • Kiểm chuẩn thực nghiệm thành công trên mẫu bột chuẩn urani của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế với độ lệch tuyệt đối chỉ 0,002%, đồng thời xác định chính xác thành phần độ giàu của hai mẫu urani thực tế từ Viện Kỹ thuật Hạt nhân.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác thanh sát an toàn hạt nhân, kiểm soát chất lượng thanh nhiên liệu phục vụ các chương trình phát triển năng lượng nguyên tử an toàn và bền vững.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2025 đến năm 2027, hướng nghiên cứu sẽ tiếp tục mở rộng để tự động hóa hoàn toàn thuật toán phân tích phổ và ứng dụng thử nghiệm trên các mẫu nhiên liệu hỗn hợp oxit chứa plutoni. Quý độc giả quan tâm vui lòng tham khảo chi tiết toàn văn luận văn thạc sĩ để nắm bắt đầy đủ các mô hình toán học và quy trình thực nghiệm chuyên sâu.