Tổng quan luận án

Công trình “Xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác phòng cháy chữa cháy: Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam” là luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Phạm Văn Năm, được hoàn thành năm 2016 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của Nguyễn Thị Hồng Nhung và Nguyễn Mạnh Hà. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế, mã số đào tạo 62.06.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ thực tiễn chi tiêu công trên thế giới gia tăng vượt tốc độ thu ngân sách, gây áp lực thâm hụt và nợ công nghiêm trọng tại cả các quốc gia phát triển lẫn đang phát triển (như Hoa Kỳ, các nước Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc), đặc biệt sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Trong các khoản chi tiêu công, cung cấp hàng hóa và dịch vụ công ngày càng chịu sức ép lớn về cả số lượng lẫn chất lượng. Phòng cháy chữa cháy (PCCC) là loại hình dịch vụ công phục vụ việc bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của cư dân cùng doanh nghiệp. Quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa, gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và mật độ tích lũy tài sản trên một đơn vị diện tích làm nguy cơ cháy nổ gia tăng cả về tần suất lẫn quy mô thiệt hại, đòi hỏi dịch vụ PCCC phải được hiện đại hóa liên tục. Tuy nhiên, nguồn ngân sách nhà nước không đủ năng lực bao cấp toàn bộ chi phí đầu tư. Giải pháp cốt lõi được nhiều chính phủ triển khai là đa dạng hóa, xã hội hóa nguồn tài chính, thu hút sự tham gia từ khu vực ngoài nhà nước.

Tại Việt Nam, nguồn kinh phí cho công tác PCCC phần lớn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Thực tế cho thấy ngân sách không đủ đáp ứng nhu cầu tái đầu tư và trang bị phương tiện; riêng nhu cầu đầu tư mua sắm phương tiện chữa cháy bị hư hỏng cần thay thế tính đến năm 2010 đã lên tới 30. Dù chính sách đổi mới từ năm 1986 đã mở đường cho xã hội hóa dịch vụ công, hoạt động xã hội hóa tài chính cho PCCC tại Việt Nam vẫn diễn biến chậm, gặp nhiều vướng mắc về cơ chế, mô hình tổ chức và biện pháp thực thi. Các công trình trong nước trước đó chủ yếu xem xét PCCC dưới góc độ quản lý nhà nước hoặc phong trào quần chúng, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc huy động nguồn tài chính trên cơ sở so sánh quốc tế.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích thực trạng xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC tại Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản; từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa bằng việc trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu chính:

  1. Việc xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn chủ yếu nào?
  2. Xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản có những đặc điểm chủ yếu gì, đã đạt được những thành công nào, còn tồn tại những vấn đề gì và tại sao?
  3. Xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC ở Việt Nam có thể học hỏi được gì từ các nước trên và cần phải làm gì để vận dụng những bài học đó nhằm đẩy mạnh việc xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC tại Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Giới hạn trong hoạt động xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC thuộc lĩnh vực dân sự.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát kinh nghiệm Trung Quốc từ cuối những năm 1970 (khi bắt đầu cải cách và mở cửa); Hoa Kỳ và Nhật Bản chủ yếu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay; thực trạng Việt Nam tập trung từ năm 1986 đến năm 2014, định hướng giải pháp cho giai đoạn tiếp theo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu của luận án được cấu trúc theo các nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu về lý luận xã hội hóa và quản lý tài chính dịch vụ công:

  • Mạnh Quang Thắng (2005) trong bài viết trên Tạp chí Lý luận chính trị bàn về xã hội hóa kết quả nghiên cứu khoa học tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đề xuất cơ chế chính sách biến các sản phẩm nghiên cứu hàn lâm thành sản phẩm chung của xã hội.
  • Bùi Tiến Hanh (2007) bảo vệ luận án tiến sĩ tại Học viện Tài chính về hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục, làm rõ cơ sở lý luận của việc huy động nguồn lực tài chính ngoài ngân sách.
  • Lê Phước Minh (2005) nghiên cứu chính sách tài chính cho giáo dục đại học trong luận án tiến sĩ tại Học viện Ngân hàng.
  • Đỗ Danh Thành (2007) phân tích các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong luận văn thạc sĩ tại Đại học Kinh tế (ĐHQGHN).

Nhóm nghiên cứu về nội dung xã hội hóa công tác PCCC và hợp tác công - tư:

  • Nguyễn Quang Thứ (2004) trên Tạp chí Giáo dục lý luận xác định xã hội hóa công tác PCCC là sự phối hợp hành động có kế hoạch của mọi lực lượng xã hội theo chiến lược quốc gia. Cùng năm 2004, tác giả bảo vệ luận án tiến sĩ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, xác định dịch vụ PCCC là hàng hóa công cộng nhưng chưa đi sâu vào cơ chế xã hội hóa tài chính. Đến năm 2011, Nguyễn Quang Thứ xuất bản sách chuyên khảo tại Nxb. Chính trị Quốc gia, đề xuất mô hình kinh doanh dịch vụ PCCC nhưng vẫn chưa lượng hóa cụ thể các nguồn vốn đầu tư.
  • Đào Hữu Dân (2001, 2012) phân tích chức năng quản lý nhà nước của Cảnh sát PCCC và khẳng định tính cấp thiết của việc xã hội hóa trách nhiệm toàn dân, song chưa đề cập chi tiết khía cạnh tài chính.
  • Louis Gunnigan (2007) tại Đại học Salford (Anh) nghiên cứu mô hình đối tác công - tư (PPP) trong xây dựng; Ron Kopicki và Louis S. Thompson (1995) công bố nghiên cứu số 111 của World Bank về tái cấu trúc và tư nhân hóa hạ tầng đường sắt theo mô hình PPP.

Nhóm nghiên cứu về thực trạng PCCC và dịch vụ công tại Việt Nam:

  • Ngô Văn Xiêm (1995) nghiên cứu cấp Bộ Công an về chuyển đổi nhận thức đối với hoạt động PCCC từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường.
  • Vũ Hữu Quyết (2001) và nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Từ, Kiều Hồng Mai (2004) nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả PCCC trong doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các cơ sở công nghiệp.
  • Bản thân tác giả Phạm Văn Năm đã công bố luận văn thạc sĩ (2007) về quản lý tài chính tại Trường Đại học PCCC và bài viết (2008) trên Tạp chí Khoa học và Giáo dục PCCC, cung cấp dữ liệu: cả nước đã thành lập 81.551 đội PCCC cơ sở và dân phòng với 848.381 đội viên, phát hiện và dập tắt kịp thời trên 60% tổng số vụ cháy. Tác giả cũng chỉ ra các mô hình thực tiễn như "cụm công nghiệp an toàn PCCC" tại Hải Phòng, "ấp an toàn PCCC" tại Tiền Giang, hay việc vận động mỗi hộ gia đình cử một người tham gia đội PCCC tại Sơn La.
  • Chu Văn Thành (2004) hệ thống hóa lý luận dịch vụ công tại Nxb. Chính trị Quốc gia; Đàm Văn Huệ và Bùi Xuân Chung (2009) nghiên cứu rủi ro PPP trong viễn thông công ích; Đặng Thị Lệ Xuân (2011) phân tích xã hội hóa y tế tại Đại học Kinh tế Quốc dân; Trịnh Ngọc Bảo Duy (2011) nghiên cứu đa dạng nguồn tài chính cho PCCC; Nguyễn Thị Hương Giang (2010) khảo sát quản lý nhà nước đối với PCCC trong doanh nghiệp FDI.

Nhóm nghiên cứu quốc tế về xã hội hóa PCCC:

  • Tại Trung Quốc: Chương Châu Phát (2010) bàn về giám sát vĩ mô và phát triển bảo hiểm cháy nổ tại Phúc Kiến; Yu Xiao Lei Niu (2013) trên Tạp chí Viện Công nghệ An Dương phân tích giải pháp tài chính cho PCCC trước áp lực đô thị hóa.
  • Tại Anh và khối OECD: Báo cáo của Sir Ken Knight (2013) tại Anh chỉ ra thực trạng ngân sách trung ương sụt giảm buộc lực lượng cứu nạn, cứu hộ phải cắt giảm chi phí và đầu tư công nghệ báo cháy (trong bối cảnh hơn 50% số vụ cháy dân cư xuất phát từ thiết bị đun nấu bằng điện); Kiichiro Fukasaku (1995) xuất bản sách của OECD về liên kết chính sách kinh tế.
  • Tại Nhật Bản: Philip S. Schaenman và Edward F. Seits (1985) ghi nhận Nhật Bản duy trì lực lượng gồm 128.000 lính chuyên nghiệp cùng khoảng 1.000 lính cứu hỏa tình nguyện trên toàn quốc; báo cáo của The Japan Foundation (2011) đúc kết kinh nghiệm huy động mạng lưới cộng đồng ứng phó thảm họa sau động đất Kobe và Niigata.
  • Tại Hoa Kỳ: Cơ quan Quản lý PCCC Hoa Kỳ (United States Fire Administration - USFA, 2012) công bố tài liệu FA-331 phân tích cụ thể các kênh huy động tài chính ngoài ngân sách gồm quỹ địa phương, câu lạc bộ cộng đồng, quyên góp doanh nghiệp tư nhân và hợp tác công - tư PPP.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trên chưa phân tích toàn diện, hệ thống mô hình xã hội hóa nguồn tài chính cho PCCC ở các quốc gia tiêu biểu để đúc kết thành bài học thực tiễn trực tiếp áp dụng cho việc cơ cấu lại dòng vốn PCCC tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các khái niệm và nền tảng lý thuyết:

  • Lý luận về nguồn tài chính và vốn: Dẫn dụng quan điểm của Doãn Văn Kính (1996) xem nguồn tài chính là quá trình tạo lập, bố trí, luân chuyển và sử dụng tiền vốn dưới hình thái giá trị; định nghĩa trong Business Dictionary về vốn tiền tệ; quan điểm trong Từ điển tiếng Việt xem vốn là tiền của bỏ ra ban đầu nhằm mục tiêu sinh lời. Tác giả luận án xác định nguồn tài chính là khả năng tài chính mà các chủ thể xã hội có thể khai thác, sử dụng cho các mục đích cụ thể dưới dạng tiền tệ hoặc tài sản chuyển đổi được thành tiền. Luận án chia nội dung nguồn tài chính thành 4 bộ phận: của cải mới tạo ra (GDP); của cải tích lũy từ kỳ trước; của cải chuyển giao xuyên biên giới; tài sản và tài nguyên quốc gia có thể cho thuê, chuyển nhượng. Nguồn tài chính được phân loại theo tổ chức, xuất xứ, hình thức và kênh huy động (trọng tâm tiếp cận của luận án).
  • Lý luận về xã hội hóa và dịch vụ công: Phân tích thuật ngữ socialise/socialization; quan điểm của C. Mác về xã hội hóa tư liệu sản xuất; phân biệt giữa xã hội hóa xã hội và xã hội hóa cá nhân theo Nguyễn Đình Tấn (2004); quan điểm của Ngô Thanh Nhàn (2006); các nguyên tắc trong Nghị quyết số 90/NQ-CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ Việt Nam (xã hội hóa là mở rộng các nguồn đầu tư, không đồng nghĩa với việc giảm nhẹ trách nhiệm hay cắt giảm ngân sách nhà nước). Khung lý thuyết dịch vụ công sử dụng định nghĩa của Đặng Đức Đạm (2010) về tính không loại trừ (non-excludable) và không cạnh tranh (non-rival); định nghĩa của Chu Văn Thành (2004) xác định PCCC là dịch vụ công đặc biệt thuộc độc quyền của Nhà nước.
  • Mô hình hợp tác công - tư (PPP): Tiếp cận khái niệm sự tham gia của khu vực tư nhân (Private Sector Participation), Quy chế thí điểm đầu tư PPP theo Quyết định 71/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Luận án phân biệt rõ xã hội hóa không đồng nhất với tư nhân hóa: tư nhân hóa chuyển giao toàn bộ rủi ro cho khu vực tư nhân, trong khi xã hội hóa duy trì vai trò quản lý của Nhà nước với tư cách đối tác cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro.
  • Hệ thống nguồn tài chính: Phân định thành nguồn vốn trong nước (ngân sách nhà nước, tín dụng đầu tư phát triển, vốn doanh nghiệp nhà nước theo Nghị định 71/2013/NĐ-CP, trái phiếu Chính phủ theo Nghị định 01/2011/NĐ-CP, vốn tư nhân và thị trường vốn) và nguồn vốn nước ngoài (tài trợ phát triển chính thức ODF/ODA, thị trường vốn quốc tế và FDI).

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, triển khai qua 3 giác độ: nghiên cứu hệ thống (đặt tài chính PCCC trong tổng thể kinh tế - xã hội), nghiên cứu liên ngành (kết hợp kinh tế học, kinh tế quốc tế, luật học, xã hội học và lịch sử), nghiên cứu lịch sử (đánh giá sự biến đổi chính sách qua các giai đoạn cụ thể).
  • Phương pháp nghiên cứu: Thu thập số liệu, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu quốc tế, phân tích và tổng hợp logic. Tác giả đối chiếu các văn bản pháp luật, quy chuẩn, các chỉ tiêu định lượng về ngân sách, lực lượng và phương tiện PCCC giữa các quốc gia.
  • Nguồn tư liệu: Văn bản quy phạm pháp luật (Luật Đầu tư 2005, Luật Đấu thầu 2013, Luật PCCC 2011, các Nghị quyết và Nghị định của Chính phủ Việt Nam); báo cáo của USFA Hoa Kỳ; báo cáo của The Japan Foundation; dữ liệu từ các viện nghiên cứu tại Trung Quốc; số liệu thống kê đào tạo và trang thiết bị thực tế tại Trường Đại học PCCC và Bộ Công an.

Nội dung chính theo từng chương

Danh mục bảng và hình vẽ minh họa trong văn bản luận án được thể hiện qua bảng sau:

STT Ký hiệu Tên bảng / hình vẽ trong luận án Trang
1 Bảng 3.1 Chi phí PCCC ở Hoa Kỳ năm 2011 79
2 Bảng 4.1 Nguồn tài chính đầu tư cho lực lượng cảnh sát PCCC giai đoạn 2003-2013 115
3 Bảng 4.2 Thống kê kết quả đào tạo tại Trường Đại học PCCC (1976-2014) 120
4 Bảng 4.3 Lực lượng PCCC của các nước trên thế giới đầu thế kỷ 21 122
5 Bảng 4.4 Dự báo nhu cầu nguồn tài chính đầu tư cho các loại phương tiện chữa cháy giai đoạn từ 2011 – 2030 123
6 Bảng 4.5 Dự báo nhu cầu nguồn tài chính đầu tư cơ sở vật chất cho lực lượng PCCC giai đoạn từ 2011 – 2030 123
7 Hình 2.1 Hệ thống các nguồn tài chính 34
8 Hình 2.2 Mô hình xã hội hóa nguồn tài chính trong hoạt động PCCC 44
9 Hình 2.3 Các nhân tố tác động tới quá trình xã hội hóa nguồn tài chính cho hoạt động PCCC 49
10 Hình 3.1 Mô hình tổ chức lực lượng PCCC Trung Quốc 55
11 Hình 3.2 Cán cân ngân sách của chính phủ Trung Quốc 2001-2013 58
12 Hình 3.3 Ngân sách và chi tiêu thực tế cho hoạt động PCCC tại bang California giai đoạn 1999-2015 79

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Chương này điểm lại các công trình khoa học trong và ngoài nước theo ba mạch nội dung: lý luận xã hội hóa dịch vụ công, thực tiễn tổ chức công tác PCCC, và huy động tài chính PCCC tại một số quốc gia. Tác giả chứng minh rằng các nghiên cứu trước đây hoặc chỉ dừng lại ở lý luận chung về xã hội hóa giáo dục, y tế, hoặc chỉ bàn về PCCC dưới góc độ nghiệp vụ kỹ thuật và quản lý hành chính. Những công trình nước ngoài tuy phản ánh được kinh nghiệm cắt giảm ngân sách và huy động nguồn lực địa phương nhưng chưa được hệ thống hóa theo góc độ kinh tế quốc tế nhằm đối chiếu với điều kiện của Việt Nam. Từ đó, chương xác lập tính độc lập và khoảng trống học thuật mà luận án giải quyết.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở khái niệm và khung phân tích. Nội dung chương làm rõ bản chất kinh tế của nguồn tài chính và vốn, phân tích dòng luân chuyển giá trị từ khu vực công sang khu vực tư và ngược lại. Tác giả luận giải tính chất của dịch vụ PCCC là dịch vụ công đặc biệt mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội nhưng dễ dẫn đến thất bại thị trường nếu thả nổi cho tư nhân hóa hoàn toàn. Mô hình xã hội hóa nguồn tài chính trong hoạt động PCCC (Hình 2.2) được thiết lập dựa trên cơ chế đối tác công - tư (PPP), xác định rõ các kênh huy động: đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp và cư dân, phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, các quỹ tài trợ, và vốn vay ưu đãi. Chương này cũng phân tích các yếu tố tác động đến quá trình xã hội hóa (Hình 2.3), bao gồm trình độ phát triển kinh tế, hệ thống thể chế pháp lý, nhận thức cộng đồng và năng lực điều hành của bộ máy quản lý nhà nước.

Chương 3: Thực trạng xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC tại Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản

Chương 3 khảo sát thực tiễn tại ba nền kinh tế lớn:

  • Tại Trung Quốc: Phân tích mô hình tổ chức lực lượng PCCC (Hình 3.1) gắn liền với áp lực đô thị hóa nhanh và cán cân ngân sách giai đoạn 2001-2013 (Hình 3.2). Nước này kết hợp ngân sách nhà nước với việc bắt buộc các cơ sở sản xuất, khu đô thị thành lập đội chữa cháy chuyên trách tự trang trải kinh phí, đồng thời thúc đẩy cơ chế tài chính từ bảo hiểm cháy nổ.
  • Tại Hoa Kỳ: Dựa trên số liệu Chi phí PCCC năm 2011 (Bảng 3.1) và thực tế ngân sách bang California giai đoạn 1999-2015 (Hình 3.3). Tài chính PCCC tại Mỹ phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương, huy động nguồn lực tư nhân thông qua các quỹ cộng đồng, tài trợ trang thiết bị từ doanh nghiệp, thuế PCCC địa phương và mô hình bảo trợ từ Hiệp hội PCCC Quốc gia Hoa Kỳ (NFPA).
  • Tại Nhật Bản: Khai thác mô hình phối hợp giữa lực lượng cứu hỏa chuyên nghiệp và lực lượng cứu hỏa tình nguyện, giáo dục bắt buộc trong nhà trường và sự đóng góp chi phí trực tiếp từ các tổ chức khu dân cư, hiệp hội tự quản nhằm giảm gánh nặng chi ngân sách trung ương. Từ kinh nghiệm ba nước, tác giả đúc kết bài học về đa dạng hóa nguồn thu, chuẩn hóa hành lang pháp lý, nâng cao trách nhiệm người thụ hưởng và xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính.

Chương 4: Xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC ở Việt Nam và giải pháp vận dụng các bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản

Chương 4 đánh giá thực trạng nguồn tài chính đầu tư cho Cảnh sát PCCC Việt Nam giai đoạn 2003-2013 (Bảng 4.1), năng lực đào tạo tại Trường Đại học PCCC 1976-2014 (Bảng 4.2), và so sánh tương quan lực lượng PCCC đầu thế kỷ 21 (Bảng 4.3). Tác giả dẫn chứng số liệu dự báo nhu cầu vốn đầu tư phương tiện và cơ sở vật chất PCCC giai đoạn 2011-2030 (Bảng 4.4 và Bảng 4.5), cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng nếu chỉ trông cậy vào ngân sách. Chương này chỉ ra hạn chế: nguồn thu bảo hiểm cháy nổ trích lại cho PCCC còn thấp, các mô hình tự quản cơ sở chưa có cơ chế tài chính ổn định, thiếu chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích tư nhân đầu tư phương tiện cứu hộ. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể: hoàn thiện khung pháp lý về PPP trong PCCC; sửa đổi cơ chế thu - chi phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc; khuyến khích doanh nghiệp thành lập đội PCCC tự nguyện tự trang bị; áp dụng chính sách ưu đãi tài chính, đất đai cho các đơn vị sản xuất, nhập khẩu phương tiện PCCC.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

  • Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn tài chính, vốn và các kênh huy động tài chính trong nền kinh tế thị trường, áp dụng trực tiếp vào lĩnh vực dịch vụ công an toàn phòng cháy chữa cháy.
  • Làm rõ bản chất kinh tế của xã hội hóa tài chính PCCC, phân định ranh giới giữa xã hội hóa và tư nhân hóa trong việc cung ứng dịch vụ công ích đặc thù do Nhà nước kiểm soát.
  • Khái quát hóa bức tranh thực tế về phương thức phân bổ ngân sách, chia sẻ chi phí PCCC và cơ chế huy động vốn tư nhân tại Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp ứng dụng:

  • Luận án đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng đầu tư tài chính cho PCCC tại Việt Nam giai đoạn 1986–2014, làm rõ các bất cập trong việc phân bổ vốn ngân sách và khai thác nguồn lực xã hội.
  • Tổng hợp các số liệu dự báo nhu cầu tài chính đầu tư phương tiện và cơ sở vật chất kỹ thuật của lực lượng PCCC đến năm 2030, chứng minh tính cấp bách của việc giải phóng áp lực chi tiêu công.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp vận dụng kinh nghiệm quốc tế: xây dựng cơ chế đối tác công - tư (PPP) trong đầu tư cơ sở hạ tầng PCCC; hoàn thiện quy định pháp luật về trích lập quỹ từ nguồn thu bảo hiểm cháy nổ bắt buộc; ban hành các ưu đãi thuế, tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị chữa cháy; chuẩn hóa quy chế tài chính duy trì hoạt động của mạng lưới dân phòng và đội PCCC cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Giới hạn nội dung: Luận án chỉ tập trung vào lĩnh vực dân sự, không nghiên cứu công tác PCCC trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng và các công trình quân sự đặc thù.
  • Giới hạn không gian và dữ liệu: Công trình chỉ khảo sát thực nghiệm 3 quốc gia (Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản). Các số liệu tài chính PCCC quốc tế chủ yếu thu thập từ báo cáo thứ cấp giai đoạn trước năm 2013-2015.
  • Giới hạn thời gian: Phân tích thực trạng tài chính PCCC tại Việt Nam kết thúc tại mốc năm 2014, chưa phản ánh được các thay đổi thể chế sau giai đoạn này.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Khảo sát mở rộng cơ chế huy động tài chính cho PCCC trong các công trình phức hợp, nhà cao tầng, hệ thống tàu điện ngầm và khu kinh tế trọng điểm.
  • Đánh giá tác động thực tế của Luật Phòng cháy và chữa cháy sửa đổi cùng các văn bản hướng dẫn về cơ chế trích lập kinh phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc trong giai đoạn mới.
  • Nghiên cứu mô hình tài trợ tài chính quốc tế và các cơ chế tín dụng xanh áp dụng cho đầu tư công nghệ cứu hộ, cứu nạn tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Bộ Công an (trực tiếp là Cục Cảnh sát PCCC và CNCH), Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc sửa đổi chính sách bảo hiểm cháy nổ, xây dựng quy chế đối tác công - tư và hoàn thiện định mức chi ngân sách nhà nước cho công tác cứu hộ, cứu nạn.
  • Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu học tập, nghiên cứu cho giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế, Quản lý tài chính công tại Học viện Khoa học Xã hội, Học viện Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Trường Đại học PCCC.
  • Lực lượng thực thi tại địa phương: Giúp chính quyền địa phương, ban quản lý các khu công nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tham khảo các mô hình tự quản tài chính, thành lập các cụm an toàn PCCC cơ sở nhằm chia sẻ gánh nặng chi phí trang bị kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo số liệu của tác giả công bố năm 2008, lực lượng PCCC cơ sở và dân phòng tại Việt Nam có quy mô như thế nào và xử lý được bao nhiêu phần trăm số vụ cháy? Theo bài viết năm 2008 của tác giả Phạm Văn Năm được trích dẫn trong luận án, lực lượng Cảnh sát PCCC toàn quốc đã xây dựng được 81.551 đội PCCC cơ sở và dân phòng với 848.381 đội viên. Lực lượng nòng cốt này hàng năm đã phát hiện và dập tắt kịp thời trên 60% tổng số vụ cháy xảy ra ở cơ sở.

2. Nhu cầu kinh phí thay thế phương tiện PCCC hư hỏng ở Việt Nam đến năm 2010 được nêu trong văn bản là bao nhiêu? Trong phần tính cấp thiết của đề tài, tác giả trích dẫn số liệu cho thấy chỉ tính riêng nhu cầu đầu tư mua sắm phương tiện chữa cháy bị hư hỏng cần phải thay thế tại Việt Nam đến năm 2010 đã lên tới 30.

3. Tài liệu của Cơ quan Quản lý PCCC Hoa Kỳ (USFA) năm 2012 chỉ ra các tổ chức tư nhân thường tài trợ cho PCCC dưới hình thức nào? Theo tài liệu FA-331 của USFA (2012), các tổ chức tư nhân không hỗ trợ chi trả tiền lương hay chi phí quản lý hành chính thường xuyên, mà đóng góp kinh phí cho việc thực hiện các chương trình mới, chương trình đặc biệt và mua sắm trang thiết bị hoạt động thông qua tiền mặt, hiện vật, dịch vụ, quỹ cộng đồng hoặc đối tác công - tư.

4. Theo tinh thần Nghị quyết số 90/NQ-CP ngày 21/8/1997 được trích dẫn trong luận án, xã hội hóa có đồng nghĩa với việc giảm ngân sách nhà nước không? Không. Nghị quyết số 90/NQ-CP khẳng định rõ: Xã hội hóa là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội; xã hội hóa không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước hay giảm bớt phần ngân sách Nhà nước, mà là ngược lại, nhằm tạo dựng cộng đồng trách nhiệm toàn dân.

5. Lực lượng chữa cháy Nhật Bản theo báo cáo của Schaenman và Seits (1985) có cơ cấu nhân sự như thế nào? Báo cáo năm 1985 của Philip S. Schaenman và Edward F. Seits cho thấy Nhật Bản có 128.000 lính cứu hỏa chuyên nghiệp và khoảng 1.000 lính cứu hỏa tình nguyện trên toàn quốc, trong đó lực lượng tình nguyện thực hiện phần lớn công tác PCCC tại khu vực nông thôn và hỗ trợ phòng cháy tại các đô thị.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Văn Năm đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động xã hội hóa nguồn tài chính cho công tác PCCC thuộc lĩnh vực dân sự. Thông qua việc phân tích thực trạng ngân sách và phương thức huy động nguồn lực ngoài nhà nước tại Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản, tác giả đã đúc kết các bài học kinh nghiệm về hoàn thiện thể chế pháp lý, cơ chế tài chính bảo hiểm và mô hình hợp tác công - tư. Đây là công trình chuyên khảo cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tế nhằm đa dạng hóa nguồn tài chính, giảm thiểu áp lực bao cấp từ ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý cháy nổ tại Việt Nam.